Thu hẹp khoảng cách thông tin là một trong những yếu tố then chốt giúp người dân thay đổi tư duy sản xuất và tiếp cận các phương thức phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại. Thực tế tại Sơn La cho thấy, khi công tác truyền thông được đẩy mạnh, thông tin dễ tiếp cận và lan tỏa kịp thời đã góp phần quan trọng giảm nghèo thông tin, tạo chuyển biến rõ nét trong nhận thức và hành động của người dân.
Những năm trước đây, hạn chế về thông tin từng là rào cản lớn đối với sự phát triển kinh tế nông thôn ở Sơn La. Người dân vẫn duy trì phương thức canh tác truyền thống, thiếu cập nhật về khoa học kỹ thuật và thị trường, dẫn đến hiệu quả sản xuất chưa cao, giá trị sản phẩm thấp. Việc thiếu thông tin cũng khiến họ gặp khó khăn trong kết nối tiêu thụ, phụ thuộc nhiều vào thương lái, thiếu chủ động trong sản xuất, kinh doanh.

Trước thực tế đó, tỉnh Sơn La đã xác định tăng cường truyền thông là giải pháp trọng tâm nhằm giảm nghèo thông tin. Thông qua hệ thống truyền thanh cơ sở, các hội nghị, hội thảo, tập huấn cùng sự hỗ trợ của các nền tảng số, những thông tin thiết yếu về thị trường, khoa học kỹ thuật, chuyển đổi số… được truyền tải đến tận bản làng. Nội dung truyền thông không chỉ dừng lại ở phổ biến kiến thức mà còn chú trọng hướng dẫn cụ thể, “cầm tay chỉ việc”, giúp người dân dễ hiểu, dễ áp dụng.
Nhờ đó, nhận thức của người dân từng bước được nâng lên. Thông qua các chương trình tập huấn, từ chỗ e ngại công nghệ, người dân được tiếp cận và ứng dụng các công cụ quản lý hiện đại như phần mềm ghi chép nhật ký sản xuất, phần mềm kế toán, ứng dụng truy xuất nguồn gốc… vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Công tác truyền thông ngày càng được Sơn La đổi mới, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Bên cạnh các hình thức truyền thống, địa phương đẩy mạnh truyền thông qua mạng xã hội, các nền tảng số, giúp mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin, đặc biệt là đối với lực lượng lao động trẻ. Nội dung truyền thông thiết kế gần gũi với thực tiễn sản xuất, gắn với nhu cầu cụ thể của từng địa phương, từng ngành hàng.
Một minh chứng cụ thể về hiệu quả tăng cường truyền thông là Hội thảo “Thực trạng và định hướng phát triển nông nghiệp bền vững” được tổ chức ngày 19/4 tại xã Chiềng La, với sự phối hợp giữa UBND xã và Trường Đại học Tây Bắc. Hội thảo không chỉ là diễn đàn trao đổi thông tin mà còn là kênh truyền thông trực tiếp, giúp người dân, cán bộ cơ sở tiếp cận các định hướng, giải pháp phát triển nông nghiệp phù hợp với điều kiện địa phương.
Theo số liệu tại hội thảo, xã Chiềng La hiện có trên 4.400 ha đất sản xuất nông nghiệp với các loại cây trồng chủ lực như lúa, sắn, chè, cà phê, chuối, xoài, nhãn; tổng đàn vật nuôi đạt trên 149 nghìn con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng bình quân khoảng 128 tấn/năm. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp của xã vẫn đang ở giai đoạn chuyển đổi từ tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, còn nhiều hạn chế như quy mô nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi giá trị, thị trường tiêu thụ phụ thuộc vào thương lái, sản phẩm chưa có thương hiệu.
Những khó khăn này phần nào bắt nguồn từ “nghèo thông tin”, khi người dân chưa tiếp cận đầy đủ với kiến thức khoa học kỹ thuật, thiếu thông tin thị trường, hạn chế trong ứng dụng công nghệ. Thông qua các hoạt động truyền thông như hội thảo, tập huấn, người dân Chiềng La đã có thêm cơ hội tiếp cận thông tin mới, hiểu rõ hơn về xu hướng phát triển nông nghiệp bền vững, từ đó từng bước thay đổi cách làm.
Nhận thức rõ vai trò của truyền thông trong giảm nghèo thông tin, tỉnh Sơn La đang tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp theo hướng thiết thực, hiệu quả. Trong đó, chú trọng xây dựng nội dung truyền thông dễ hiểu, phù hợp với trình độ của người dân; phát huy vai trò của hệ thống truyền thanh cơ sở; đồng thời kết hợp chặt chẽ giữa truyền thông và đào tạo kỹ năng số. Việc xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, “hạt nhân truyền thông” tại các bản, làng cũng được quan tâm nhằm đảm bảo thông tin lan tỏa liên tục, bền vững.
Bên cạnh đó, tỉnh còn tăng cường truyền thông về chuyển đổi số, kinh tế số, giúp người dân hiểu rõ lợi ích và chủ động tham gia. Các nội dung truyền thông về xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, cấp mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, mở rộng thị trường xuất khẩu… đã góp phần định hướng sản xuất theo nhu cầu thị trường.