
Một số doanh nghiệp dệt may, da giày khi trò chuyện, họ cũng cho biết ở trong tình cảnh tương tự.
Nghe họ nói, có cảm giác nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang chạy rất nhanh nhưng vẫn không thoát khỏi sự bấp bênh thường trực.
Trong khi các tập đoàn FDI vẫn tiếp tục mở rộng sản xuất, tăng xuất khẩu và chống chịu khá tốt trước các cú sốc toàn cầu.
Hai khu vực ấy cùng tồn tại trong một nền kinh tế, nhưng càng ngày càng có nhiều điểm khác nhau.
Nhìn vào Báo cáo cập nhật kinh tế Việt Nam của World Bank, khoảng cách ấy hiện ra khá rõ. World Bank gọi đây là “nền kinh tế kép”, nơi các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, dù chỉ chiếm khoảng 5% tổng số doanh nghiệp, lại tạo ra tới một nửa giá trị gia tăng và việc làm, đồng thời chiếm tới 73% kim ngạch xuất khẩu.
Ngược lại, khoảng 98% doanh nghiệp trong nước vẫn là doanh nghiệp nhỏ hoặc hoạt động phi chính thức, với năng suất và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu còn hạn chế.

Các doanh nghiệp FDI hiện nhập khẩu hơn 50% đầu vào phục vụ xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ năng lực tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng này. Ngay cả trong các ngành mũi nhọn, doanh nghiệp nội địa vẫn rất khó chen chân do khoảng cách về công nghệ, kỹ năng và năng lực quản trị.
Sau hơn 30 năm thu hút FDI, Việt Nam vẫn chưa tạo được hiệu ứng lan tỏa đủ mạnh sang khu vực doanh nghiệp nội địa.
Khoảng cách ấy bây giờ đã hiện lên rất rõ trong thực tế gần đây.
Sau khi Mỹ công bố các mức thuế đối ứng mới, xuất khẩu của khu vực FDI trong tháng 4/2026 tăng vọt tới 42% so với cùng kỳ, trong khi xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước lại giảm tới 24,5%.
Đòn đánh này rơi chủ yếu vào những ngành do doanh nghiệp Việt Nam chiếm ưu thế như dệt may, da giày, gỗ… với mức thuế hiệu dụng khoảng 15–38%, cao gấp nhiều lần mức khoảng 9% áp lên điện tử và máy móc, vốn là sân chơi của khu vực FDI.
World Bank cho rằng khác biệt lớn nhất nằm ở “sức chống chịu”. Các tập đoàn FDI có hợp đồng dài hạn, chuỗi cung ứng nội bộ, nguồn vốn từ công ty mẹ và khả năng định giá cao hơn nhờ các sản phẩm công nghệ phức tạp, nên họ có đủ “đệm” để hấp thụ cú sốc. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn nhỏ, vốn mỏng và phụ thuộc nặng vào tín dụng ngân hàng ngắn hạn, nên mỗi khi thị trường rung lắc họ gần như không có khoảng đệm tài chính để chống đỡ.
Vì thế, khu vực tư nhân trong nước đang trở thành nơi gánh phần thiệt hại lớn nhất, đúng vào lúc Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Đó là một nghịch lý: một nền kinh tế tăng trưởng rất nhanh, xuất khẩu liên tục lập kỷ lục, nhưng khu vực doanh nghiệp nội địa – thứ đáng lẽ phải là “xương sống” của nền kinh tế lại ngày càng mong manh.
Khi doanh nghiệp Việt lớn lên chưa tương ứng
Trong khi đó, doanh nghiệp nội địa lại đang gặp rất nhiều khó khăn, theo Báo cáo Kinh tế Tư nhân Việt Nam 2025 của VCCI.
Khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp tư nhân hiện nay không phải là công nghệ hay xuất khẩu, mà là… tìm khách hàng. Tỷ lệ doanh nghiệp than phiền khó tìm kiếm khách hàng đã tăng từ 45,3% lên tới 60,2% chỉ trong năm 2025, cho thấy sức cầu trong nền kinh tế đang yếu đi khá nhanh.
Một nền kinh tế rất khó tăng trưởng hai con số nếu doanh nghiệp không bán được hàng ngay trên chính thị trường nội địa của mình.
Nhưng đáng ngại hơn cả là sức khỏe tài chính của khu vực doanh nghiệp Việt Nam. Với rất nhiều doanh nghiệp nhỏ, muốn vay được tiền trước hết phải có… đất.
Có tới 75,5% doanh nghiệp không thể vay vốn nếu không có tài sản thế chấp, còn 93,5% khoản vay yêu cầu tài sản đảm bảo – cao hơn đáng kể so với mức trung bình khu vực và toàn cầu.
Điều đó cho thấy rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn đang sống bằng tài sản hơn là bằng năng lực kinh doanh. Không có tài sản đảm bảo, gần như không thể bước vào cửa ngân hàng, trong khi tín dụng lại đang là chiếc phao sinh tồn gần như duy nhất của phần lớn doanh nghiệp nhỏ.
Nhưng cảm nhận ngoài thị trường lại khác khá xa với những gì thường được nói trong các diễn đàn cải cách.
Theo khảo sát của VCCI, khó khăn liên quan đến chính sách và pháp luật đã tăng từ 16,9% lên 24,3% trong năm 2025, trong khi chỉ khoảng 6–8% doanh nghiệp cho biết họ có thể dự đoán thay đổi chính sách ở mức “thường xuyên” hoặc “luôn luôn”.
Không ai dám đầu tư dài hạn trong một môi trường mà sáng ngủ dậy có thể thấy luật chơi vừa thay đổi.
Năm 2025 vì thế dường như không phải là năm mở rộng của khu vực tư nhân nội địa, mà giống một cuộc sàng lọc mạnh hơn.
Dù số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng, số doanh nghiệp rút lui cũng tăng rất mạnh. Nhiều doanh nghiệp mới vẫn xuất hiện, nhưng ngày càng nhỏ hơn và thận trọng hơn. Sau nhiều cú sốc, dường như nhiều người giờ chỉ còn muốn tồn tại thay vì lớn lên.
Nhưng có lẽ phần dễ tổn thương nhất của nền kinh tế lại nằm ở khu vực hộ kinh doanh.
Khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh với khoảng 10 triệu lao động hiện đang vận hành trong trạng thái sức khỏe suy yếu, trong đó tới 81,5% hộ bị giảm doanh thu.
Điều đó có nghĩa là phía sau câu chuyện doanh nghiệp không chỉ là GDP hay tốc độ tăng trưởng, mà còn là câu chuyện sinh kế của hàng chục triệu người.
Thực ra, Việt Nam không thiếu thành công về FDI. Sau hơn 30 năm mở cửa, Việt Nam đã trở thành một công xưởng lớn của thế giới. Nhưng vấn đề là nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn đứng ở những khâu có lợi nhuận thấp nhất ngay trong nền kinh tế của mình.
Cấu trúc cũng bị lệch pha
Sự lệch pha ấy còn hiện rất rõ trong cấu trúc nền kinh tế. Khu vực FDI với khoảng 30.000 doanh nghiệp, hiện chiếm khoảng 73% kim ngạch xuất khẩu và đóng góp hơn 22% GDP.
Trong khi đó, khu vực doanh nghiệp tư nhân đăng ký chính thức, khoảng hơn 1 triệu, chỉ đóng góp hơn 10% GDP, còn khu vực hộ kinh doanh cá thể chiếm tới khoảng 33% GDP, theo Niên giám Thống kê.
Điều đó cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn dựa rất nhiều vào khu vực FDI khi các đơn vị sản xuất nhỏ, manh mún và sức chống chịu thấp vẫn còn chiếm đa số.
Nếu tách khu vực FDI ra, phần còn lại của nền kinh tế Việt Nam thực ra vẫn còn khá yếu, trong khi thu nhập của phần lớn người lao động vẫn chưa cao, phổ biến chỉ quanh mức 8,4 triệu đồng mỗi tháng dù nền kinh tế liên tục tăng trưởng mạnh và xuất khẩu nhiều năm lập kỷ lục.
Một nền kinh tế xuất khẩu hàng trăm tỷ USD nhưng rất nhiều người lao động vẫn đang sống bằng mức lương chỉ đủ cầm cự mỗi tháng.
Điều đáng lo nhất không phải là doanh nghiệp FDI quá mạnh, mà là sau hơn 30 năm mở cửa, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thoát khỏi vị trí gia công, lợi nhuận thấp và dễ tổn thương ngay trên chính sân nhà của mình.

