Thí sinh phải được chuẩn bị như nhau

Việc Bộ GD-ĐT từng bước chuyển kỳ thi tốt nghiệp THPT sang hình thức thi trên máy tính nhận được sự đồng tình của nhiều chuyên gia và cơ sở giáo dục đại học. Đây được xem là bước đi phù hợp với xu hướng chuyển đổi số, giúp giảm chi phí xã hội, rút ngắn thời gian chấm thi, tăng tính minh bạch và hạn chế gian lận.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo một trường đại học tại TPHCM, vẫn còn một băn khoăn cần được giải đáp: Thi trên máy tính làm sao để bảo đảm công bằng giữa học sinh ở các đô thị lớn với học sinh vùng sâu, vùng xa?

Theo ông, nếu tiếp tục duy trì thi trên giấy trong thời gian dài, giáo dục phổ thông có thể bỏ lỡ cơ hội thúc đẩy chuyển đổi số trên phạm vi toàn quốc, có thể làm gia tăng khoảng cách về kỹ năng số giữa các vùng miền.

Vị này cho rằng "Làm thế nào để mọi học sinh đều sẵn sàng cho kỳ thi trên máy tính?" mới là câu hỏi cần được đặt ra ngay từ bây giờ.

Thực tế, học sinh ở các thành phố lớn thường được tiếp cận máy tính từ sớm, trong khi tại nhiều địa phương còn khó khăn, điều kiện tiếp cận thiết bị công nghệ vẫn hạn chế. Nếu không được chuẩn bị đầy đủ, một bộ phận học sinh có thể gặp áp lực ngay từ thao tác sử dụng máy tính thay vì tập trung giải quyết các câu hỏi trong đề thi.

Dù vậy, ông cho rằng cần nhìn nhận đúng bản chất của kỳ thi. Mục tiêu của kỳ thi tốt nghiệp THPT không phải đánh giá khả năng sử dụng máy tính mà là đánh giá năng lực học tập của học sinh. Vì thế, trách nhiệm của cơ quan quản lý là bảo đảm mọi học sinh đều có điều kiện tiếp cận và làm quen với hình thức thi mới trước khi áp dụng chính thức.

W-Unknown 12.jpg
Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT 2026.

Để làm được điều đó, cần có lộ trình chuẩn bị đủ dài và đồng bộ. Học sinh cần được làm quen với phần mềm thi ngay trong quá trình học, tham gia các đợt thi thử trên đúng giao diện chính thức và được hướng dẫn xử lý các tình huống có thể xảy ra trong phòng thi. Đồng thời, phần mềm cần được thiết kế đơn giản, trực quan và dễ sử dụng.

Quan trọng hơn, cần ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ cho các địa phương còn khó khăn, từ máy tính, đường truyền đến đội ngũ kỹ thuật hỗ trợ. Khi học sinh ở mọi vùng miền được tiếp cận cùng điều kiện, công nghệ sẽ không còn là rào cản mà trở thành công cụ nâng cao tính minh bạch và bảo đảm công bằng trong khảo thí.

"Công bằng trong kỳ thi không phụ thuộc vào việc làm bài trên giấy hay trên máy tính, mà phụ thuộc vào việc mọi thí sinh có được chuẩn bị như nhau trước khi bước vào phòng thi hay không", ông nói.

Theo PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật TPHCM, thi tốt nghiệp THPT trên máy tính không chỉ là thay đổi hình thức làm bài mà phải là bước khởi đầu để xây dựng hệ thống khảo thí số, trong đó công nghệ hiện diện từ ra đề, coi thi, chấm thi đến quản lý dữ liệu và xét tuyển.

Ông đề xuất xây dựng ngân hàng câu hỏi lớn, hệ thống tự động sinh đề và phân phối ngẫu nhiên cho từng thí sinh, qua đó loại bỏ nguy cơ lộ đề, giảm các khâu in sao, vận chuyển đề. Trong tương lai, Việt Nam có thể nghiên cứu áp dụng thi thích ứng (adaptive testing) như kỳ thi SAT để đánh giá năng lực chính xác hơn.

Ở khâu tổ chức thi, AI kết hợp camera có thể hỗ trợ giám sát, phát hiện bất thường trong phòng thi; bài trắc nghiệm được chấm tự động, còn AI hỗ trợ chấm tự luận trước khi giám khảo quyết định kết quả cuối cùng. Đồng thời, toàn bộ dữ liệu thi và xét tuyển cần được số hóa, lưu trữ an toàn, có nhật ký điện tử để mọi thay đổi đều có thể kiểm tra, truy vết.

Theo ông Dũng, một kỳ thi duy nhất khó phản ánh đầy đủ năng lực học sinh. Vì vậy, cần kết hợp kết quả kỳ thi chuẩn hóa với đánh giá quá trình học tập, dự án, hồ sơ năng lực (portfolio), đồng thời xây dựng cơ chế kiểm định thống nhất để bảo đảm tính công bằng giữa các trường.

Ông cũng nhấn mạnh, chuyển đổi số chỉ thành công khi không làm gia tăng khoảng cách giữa các vùng miền. Do đó, cùng với cải cách thi cử, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư hạ tầng công nghệ cho vùng khó khăn, hỗ trợ học sinh tiếp cận thiết bị và nền tảng học tập trực tuyến. "Mục tiêu cuối cùng không chỉ là hiện đại hóa kỳ thi mà còn bảo đảm mọi học sinh đều có cơ hội được đánh giá công bằng, bất kể điều kiện học tập hay nơi sinh sống", ông Dũng nói.

Nếu dùng để tuyển sinh đại học, thí sinh sẽ có xu hướng thi nhiều lần

PGS.TS Bùi Hoài Thắng, Trưởng phòng Đào tạo, Trường ĐH Bách khoa TPHCM, cho rằng việc thí sinh có nhu cầu thi nhiều lần phụ thuộc trực tiếp vào mục tiêu của kỳ thi. Nếu kết quả được sử dụng để xét tuyển đại học và các trường chấp nhận điểm cao nhất trong nhiều lần thi, thí sinh sẽ có động lực dự thi nhiều lần để cải thiện kết quả. Ngược lại, nếu kỳ thi chỉ nhằm công nhận tốt nghiệp, nhu cầu thi lại sẽ rất thấp, ngoại trừ những trường hợp trượt hoặc phải thi lại vì lý do khách quan.

Một yếu tố khác là thời điểm và phạm vi nội dung thi. Nếu kỳ thi diễn ra khi học sinh chưa hoàn thành chương trình hoặc chưa đủ thời gian ôn tập, việc phải thi nhiều lần là điều dễ hiểu. Nếu mục tiêu là tuyển sinh đại học, đề thi chỉ cần đánh giá năng lực nền tảng ở bậc phổ thông, chú trọng tư duy, phân tích và giải quyết vấn đề thay vì kiểm tra mức độ ghi nhớ toàn bộ chương trình. Kỳ thi đánh giá năng lực hiện nay đang đi theo hướng này. Trong khi đó, nếu kỳ thi tốt nghiệp nhằm đánh giá kết quả đào tạo THPT, cần xác định rõ chuẩn đầu ra và tổ chức sau khi học sinh hoàn thành đầy đủ chương trình.

Bên cạnh đó, luôn tồn tại những trường hợp phải thi lại do yếu tố bất khả kháng như sức khỏe, sự cố kỹ thuật hoặc những vấn đề trong khâu tổ chức. Vì vậy, một cơ chế thi nhiều đợt là cần thiết để bảo đảm quyền lợi của thí sinh.

Việc tổ chức một hay nhiều đợt thi phải xuất phát từ mục tiêu của kỳ thi. Nếu dùng để tuyển sinh đại học, việc cho phép thi nhiều lần là hợp lý. Ngược lại, nếu chỉ nhằm xét tốt nghiệp, một kỳ thi chính cùng một đợt bổ sung cho các trường hợp đặc biệt là đủ.

W-thí sinh.jpg
Thí sinh dự thi tốt nghiệp THPT.

Theo ông Phạm Thái Sơn, Giám đốc tuyển sinh Trường ĐH Công Thương TPHCM, trong giai đoạn đầu triển khai kỳ thi tốt nghiệp THPT trên máy tính, chưa nên cho phép thí sinh thi nhiều lần trong năm để lấy điểm xét tuyển đại học. Trước mắt, cần vận hành ổn định hệ thống và rút kinh nghiệm trong khoảng 3 năm. Đến khoảng năm 2030, khi hạ tầng kỹ thuật, ngân hàng đề thi và quy trình tổ chức đã hoàn thiện, mới nên xem xét cho phép thí sinh thi lại các môn sử dụng để đăng ký xét tuyển vào đại học.

"Thí sinh thi một lần hay nhiều lần không quan trọng. Quan trọng là đề thi các đợt phải chuẩn hóa, có độ khó tương đương để bảo đảm công bằng cho tất cả thí sinh", PGS.TS Đỗ Văn Dũng nói.