LỜI TÒA SOẠN

Với bệnh nhân ung thư, hành trình điều trị không chỉ là cuộc chiến với bệnh tật mà còn là gánh nặng chi phí kéo dài. Những loại thuốc mới mở ra thêm cơ hội kiểm soát bệnh nhưng giá thành cao khiến nhiều gia đình chật vật xoay xở để duy trì liệu trình.

Bảo hiểm y tế và các chương trình hỗ trợ thuốc đã góp phần san sẻ gánh nặng, song khả năng tiếp cận thuốc phù hợp vẫn là bài toán khó, nhất là với người bệnh phải điều trị lâu dài.

VietNamNet đăng tải tuyến bài “Gánh nặng từ những toa thuốc”, phản ánh những khó khăn bệnh nhân đối mặt khi chi trả tiền thuốc, đồng thời đặt ra vấn đề về cơ chế hỗ trợ và khả năng tiếp cận điều trị. Làm thế nào để khả năng tài chính không trở thành yếu tố quyết định cơ hội điều trị của người dân.

3 thế hệ thuốc đích hiệu quả như thế nào?

Hiện có ba thế hệ thuốc nhắm trúng đích EGFR thường được sử dụng trong điều trị ung thư phổi không tế bào nhỏ có đột biến EGFR.

Thế hệ 1 gồm erlotinib và gefitinib BHYT hỗ trợ 50%; thế hệ 2 gồm afatinib, dacomitinib. Giá Giotrif có hoạt chất afatinib do Bộ Y tế niêm yết là 1,4 triệu đồng/viên, người bệnh được BHYT hỗ trợ 50%. Thế hệ 3 có osimertinib chưa được BHYT hỗ trợ, chi phí khoảng 42 triệu đồng/tháng thuốc, một số chương trình hỗ trợ áp dụng cho từng người bệnh còn khoảng 27 triệu đồng/tháng.

Theo bác sĩ Trịnh Thế Cường - Khoa Hóa trị liệu, Bệnh viện E (Hà Nội), việc lựa chọn không thể chỉ dựa vào thế hệ của thuốc. Bác sĩ phải xem xét loại đột biến, có di căn não hay không, tuổi, thể trạng, bệnh lý đi kèm, điều kiện kinh tế, mong muốn của người bệnh và khả năng sẵn có của thuốc.

Điều này đặc biệt quan trọng với những bệnh nhân cao tuổi, có nhiều bệnh nền.

Thuốc thế hệ 3 cho thấy ưu thế về thời gian kiểm soát bệnh theo dữ liệu trong nghiên cứu FLAURA, osimertinib cho kết quả vượt trội so với erlotinib/gefitinib.

ung thu 62860.png
Bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K cơ sở Tam Hiệp (Hà Nội). Ảnh: P.Thúy.

Thời gian sống thêm không bệnh tiến triển trung vị là 18,9 tháng so với 10,2 tháng; thời gian sống thêm toàn bộ trung vị là 38,6 tháng so với 31,8 tháng. Osimertinib cũng có khả năng thấm vào hệ thần kinh trung ương tốt, vì vậy có vai trò quan trọng ở bệnh nhân có di căn não.

Đây là những con số quan trọng nhưng không có nghĩa mọi bệnh nhân sẽ sống đúng bằng thời gian trung vị của nghiên cứu.

Kết quả thực tế còn phụ thuộc đặc điểm người bệnh, sinh học khối u, khả năng dung nạp và các phương pháp điều trị tiếp theo.

Thuốc rẻ hơn không đồng nghĩa hiệu quả kém

PGS Lê Thượng Vũ, Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM, cho rằng hiệu quả điều trị ung thư còn phụ thuộc vào đặc điểm sinh học và vi môi trường khối u.

Ông nhấn mạnh vai trò của xét nghiệm sinh học phân tử trong việc tìm kiếm đích điều trị. Khi công nghệ giải trình tự phát triển, một lần xét nghiệm có thể khảo sát nhiều gene hơn, giúp bác sĩ có thêm dữ liệu để lựa chọn phác đồ và đánh giá tiên lượng.

Nói cách khác, trước khi hỏi “thuốc nào đắt nhất”, người bệnh cần biết khối u của mình có đặc điểm sinh học gì và thuốc nào thực sự có đích tác động phù hợp.

Điều trị đích trong một số ung thư thường gặp
Loại ung thư Dấu ấn phân tử / Đích nhắm Thuốc điều trị đích tiêu biểu
Phổi (NSCLC) EGFR, ALK, ROS1, KRAS G12C Osimertinib, Alectinib, Sotorasib
Vú HER2, BRCA, PIK3CA Herceptin, Olaparib, Alpelisib
Đại trực tràng KRAS/NRAS, BRAF, VEGF Cetuximab, Bevacizumab

Trong thực hành, mục tiêu của điều trị thuốc đích là kéo dài thời gian kiểm soát bệnh, trì hoãn hóa trị và duy trì chất lượng cuộc sống với mức độc tính có thể chấp nhận được.

Thuốc thế hệ 1 có lợi thế về khả năng tiếp cận và chi phí trong một số trường hợp. Thế hệ 2 có hiệu quả ở một số nhóm bệnh nhân nhưng cần chú ý độc tính. Thế hệ 3 có ưu thế về hiệu quả và khả năng kiểm soát bệnh ở hệ thần kinh trung ương, nhưng chi phí cao có thể trở thành rào cản.

Osimertinib cũng có thể được kết hợp hóa trị trong một số tình huống bệnh có gánh nặng lớn hoặc tiến triển nhanh; đây là quyết định cần dựa trên tình trạng cụ thể của người bệnh.

Bác sĩ Vũ cho rằng ung thư hiện nay không còn đáng sợ như trước. Người bệnh được điều trị cá thể hóa, căn bệnh có nhiều thuốc, nhiều đích phân tử và nhiều chiến lược hơn.

Nhưng càng nhiều thuốc mới, bài toán tiếp cận càng phức tạp. Theo TS.BS Ong Thế Duệ - Viện Chiến lược chính sách (Bộ Y tế), chi phí thuốc ngày càng tăng trong khi hệ thống BHYT phải cân bằng giữa việc đưa thuốc mới vào danh mục và khả năng bảo đảm nguồn lực tài chính.

Vì vậy, cuộc chiến chống ung thư hôm nay không chỉ là tìm ra thuốc có hiệu quả mà phải tìm cách để người bệnh có thể tiếp cận thuốc, sử dụng đúng thuốc và duy trì điều trị đủ lâu để nhận được lợi ích.

Với một gia đình có người mắc ung thư, câu hỏi vừa là “thuốc này có thể giúp người bệnh sống lâu hơn bao nhiêu?” vừa là khả năng duy trì phương án điều trị ấy trong bao lâu, và nếu không đủ, đâu là lựa chọn phù hợp tiếp theo?

PGS Vũ chia sẻ có bệnh nhân điều trị thuốc miễn dịch trong 2 năm tốn khoảng 2,8 tỷ đồng dù đã có các chính sách hỗ trợ của hãng dược. Tuy nhiên, không phải ai chi tiền tỷ cũng đáp ứng thuốc. Có bệnh nhân dùng vài liệu trình hết tiền, khối u tiêu. Có bệnh nhân dùng kéo dài nhưng bệnh vẫn tiến triển. Vì vậy, việc điều trị ung thư có nhiều hy vọng mới nhưng cũng cần dự trên cá thể từng người - bác sĩ Vũ phân tích.