Bị bạn trai sống chung giả chữ ký bán đất cha mẹ để lại
Theo trình bày của bà S. (ngụ tỉnh Đắk Lắk), bà và ông B. sống chung như vợ chồng từ năm 1998 nhưng không đăng ký kết hôn và không có con chung. Đến năm 2004, hai người chấm dứt quan hệ.
Cùng năm 1998, cha mẹ của bà S. nhận chuyển nhượng một thửa đất diện tích 546m2 tại tỉnh Đắk Lắk. Theo bà S., vào năm 2004, cha mẹ đã cho bà thửa đất này bằng lời nói. Cũng trong khoảng thời gian này, khi bà đi học xa, ông B. bị cho là đã lập hợp đồng chuyển nhượng, giả chữ ký của bà S. trong các giấy tờ liên quan để hoàn tất thủ tục sang tên đất cho mình.
Dựa trên hợp đồng này, năm 2005, cơ quan chức năng đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B.
Nhiều năm sau, khi phát hiện ông B. chuyển nhượng lại thửa đất cho người khác, bà S. đã khởi kiện, yêu cầu tòa án tuyên hợp đồng chuyển nhượng năm 2004 vô hiệu.

Trong khi đó, ông B. đưa ra một câu chuyện hoàn toàn khác. Ông cho rằng thửa đất ban đầu thuộc về cha mẹ bà S., nhưng sau đó đã được chuyển nhượng qua nhiều người trước khi đến tay ông.
Cụ thể, theo lời ông B., cha bà S. đã bán đất cho một người tên T.; sau đó, người này tiếp tục chuyển nhượng cả nhà và đất cho ông với giá 24 triệu đồng. Tuy nhiên, các giao dịch này chỉ được thỏa thuận bằng miệng, không có giấy tờ chứng minh.
Ông B. cũng thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và bà S. có vấn đề và đồng ý với yêu cầu tuyên hợp đồng này vô hiệu. Đồng thời, ông phản tố, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất của mình dựa trên chuỗi giao dịch trước đó.
Công nhận quyền sử dụng đất chủ yếu dựa trên lời khai
Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, tòa án đều tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa bà S. và ông B. là vô hiệu do chữ ký bị giả mạo. Tuy nhiên, tòa đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của ông B., công nhận ông là người có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất.
Lập luận của tòa chủ yếu dựa trên lời khai của ông B. về các giao dịch trước đó, dù không có chứng cứ rõ ràng. Đồng thời, tòa cũng tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa cha mẹ bà S. và người bán đất ban đầu là vô hiệu.
Kết quả này đồng nghĩa với việc bà S. không những không đòi lại được đất mà còn phải giao lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông B.
Không đồng ý với phán quyết, bà S. đã gửi đơn đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau đó, Chánh án TAND Tối cao đã ban hành quyết định kháng nghị, đề nghị hủy toàn bộ bản án.
Tại phiên giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán nhận định có nhiều vấn đề nghiêm trọng trong quá trình xét xử.
Thứ nhất, cả hai cấp tòa đã công nhận quyền sử dụng đất cho ông B. chỉ dựa trên lời khai, trong khi ông này không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc nhận chuyển nhượng đất.
Thứ hai, kết luận giám định của cơ quan công an xác định các chữ ký trong hồ sơ chuyển nhượng không phải của bà S. Dù đã tuyên giao dịch vô hiệu, tòa án lại chưa giải quyết đầy đủ hậu quả pháp lý phát sinh, dẫn đến việc giải quyết chưa triệt để.
Thứ ba, thửa đất có nguồn gốc từ cha mẹ bà S., trong khi người cha đã qua đời. Tuy nhiên, các đồng thừa kế của người này không được đưa vào tham gia tố tụng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự.
Từ những sai phạm trên, Hội đồng Thẩm phán đã quyết định chấp nhận kháng nghị, hủy toàn bộ hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời giao hồ sơ cho TAND tỉnh Đắk Lắk giải quyết lại theo đúng quy định pháp luật.
(Tham khảo Quyết định giám đốc thẩm số 48/2024/DS-PT ngày 15/8/2024 của TAND Tối cao)