Từ khi quốc gia xuất hiện, các quốc gia ven biển luôn có xu hướng mở rộng quyền lực ra hướng biển. Xu hướng này lại mâu thuẫn với tham vọng muốn duy trì quyền tự do hoạt động trên biển của các cường quốc hàng hải. Trong quá trình đấu tranh giữa 2 xu hướng đó đã xuất hiện các nguyên tắc, chế định, quy định pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ và điều hòa lợi ích giữa các quốc gia.
Chính điều đó đã tạo nền móng cho Luật Biển ra đời và phát triển.
Trải qua 5 năm trù bị (1967-1972), 9 năm thương lượng (1973-1982) và 11 khóa họp, ngày 30/4/1982, Hội nghị của Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ 3 đã thông qua được một Công ước mới, gọi là UNCLOS năm 1982, với tỷ lệ 130 phiếu thuận, 4 phiếu chống, 17 phiếu trắng và 2 nước không tham gia bỏ phiếu. Sau đó, ngày 10/12/1982, tại Vịnh Montego (Jamaica), 117 đoàn đại biểu quốc gia, trong đó có Việt Nam, đã chính thức ký Công ước. Ngày 16/11/1994, một năm sau khi có đủ 60 quốc gia thành viên phê chuẩn, UNCLOS năm 1982 đã chính thức có hiệu lực.
UNCLOS năm 1982 bao gồm tất cả mọi khía cạnh liên quan đến Luật Biển và được các quốc gia chấp nhận theo nguyên tắc “nhất trí”. UNCLOS năm 1982 gồm 17 phần với 320 điều khoản, cùng 9 phụ lục với hơn 100 điều khoản và 4 nghị quyết kèm theo, chứa đựng 1.000 quy phạm pháp luật quốc tế. Tất cả điều khoản của Công ước đều hướng đến quản trị biển một cách hòa bình và bền vững.
Chính vì vậy, nếu các bên tuân thủ quy định của UNCLOS trong việc đặt ra một trật tự về quyền và nghĩa vụ của các bên, Công ước sẽ gián tiếp tạo nên một trật tự dựa trên luật pháp trên biển. Nhờ vậy, quyền và lợi ích của các bên sẽ được hài hòa hóa, đảm bảo để phù hợp với việc một mặt sử dụng biển vào mục đích hòa bình, mặt khác hướng đến những mục đích quản trị bền vững, hướng tới tương lai.

UNCLOS là điều ước khá toàn diện với hơn 300 điều khoản. Những điều khoản của UNCLOS vừa đóng vai trò như khung pháp lý, đồng thời vẫn “sống” với thời gian. Trong UNCLOS có những quy định giúp Công ước có thể mở rộng việc giải thích đến những điều ước có liên quan, miễn là các mục tiêu và mục đích phù hợp với việc sử dụng biển hòa bình và bền vững. Miễn là luật pháp quốc tế được giải thích một cách nhất quán, không mâu thuẫn và không đối lập nhau, UNCLOS vẫn giữ nguyên giá trị sau 31 năm.
UNCLOS vẫn được ví như bản “Hiến pháp của đại dương”, giúp các bên hài hòa, dung hòa lợi ích của nhau và đạt được lợi ích chung trên toàn cầu.
Việt Nam luôn tuân thủ và thực thi UNCLOS một cách thiện chí và đầy đủ
Là một trong những thành viên sáng lập của UNCLOS, Việt Nam tham gia đàm phán Công ước từ năm 1977 và là một trong những nước thành viên phê chuẩn Công ước trước khi có hiệu lực vào năm 1994.
Suốt quá trình thực thi 31 năm qua, Việt Nam luôn tuân thủ và thực thi UNCLOS một cách thiện chí và đầy đủ. Trên thực tế, Việt Nam đã ban hành những văn bản luật nhằm nội luật hóa nghĩa vụ và cam kết của Việt Nam đối với UNCLOS. Những yêu sách về biển của Việt Nam cũng được hoạch định theo UNCLOS.
Đồng thời, Việt Nam đã, đang và sẽ nỗ lực giải quyết những tranh chấp biển dựa trên các quy định của UNCLOS. Đến thời điểm hiện nay, rất tự hào, Việt Nam dựa trên các quy định của UNCLOS và phân định được biển với Trung Quốc tại Vịnh Bắc Bộ, phân định được biển với Thái Lan, Indonesia; Việt Nam hợp tác với Malaysia để có vùng khai thác dầu khí chung, có những đệ trình chung về thềm lục địa mở rộng lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa Liên hợp quốc.
Tất cả những kết quả đó đạt được dựa trên tinh thần Việt Nam là thành viên của UNCLOS, luôn tuân thủ một cách thiện chí, hiệu quả và tích cực với tất cả những cam kết trong khuôn khổ UNCLOS.