
Hàng loạt sổ đỏ được thế chấp cho khoản vay hơn trăm tỷ
Công ty TNHH P. có trụ sở tại thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (cũ) đã ký nhiều hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N. để vay vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cụ thể, năm 2010, công ty ký hợp đồng tín dụng vay hơn 15,2 tỷ đồng. Đến nay, khoản nợ gốc đã được thanh toán nhưng còn nợ lãi hơn 2,1 tỷ đồng.
Năm 2011, doanh nghiệp tiếp tục vay hơn 60,1 tỷ đồng. Đến thời điểm khởi kiện, công ty còn nợ gần 49,9 tỷ đồng tiền gốc và hơn 47,4 tỷ đồng tiền lãi.
Đến năm 2012, công ty ký thêm hợp đồng tín dụng gần 10 tỷ đồng, còn nợ hơn 3,4 tỷ đồng tiền gốc và hơn 6,6 tỷ đồng tiền lãi.
Tổng cộng, tính đến ngày 30/6/2020, doanh nghiệp còn nợ hơn 109,6 tỷ đồng gồm cả gốc và lãi. Đến ngày 18/6/2025, dư nợ được xác định còn hơn 91,2 tỷ đồng, trong đó nợ gốc hơn 53,3 tỷ đồng và tiền lãi gần 37,9 tỷ đồng (sau khi doanh nghiệp thanh toán thêm một phần nghĩa vụ).

Để được giải ngân, Công ty P. đã dùng nhiều tài sản của công ty và của các cá nhân bên thứ ba để thế chấp cho ngân hàng.
Ngoài khu đất gần 72.000m2 của chính doanh nghiệp tại Sóc Trăng (cũ), hàng loạt quyền sử dụng đất của người dân cũng được đưa vào danh sách tài sản bảo đảm.
Theo hồ sơ vụ án, nhiều cá nhân đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm cho khoản vay của Công ty P. như ông Tiêu Cẩm C, ông Điền Minh M, ông Hà Văn T, bà Lê Thị B, ông La Hương T, ông Cao Quốc T, bà Quách Xuân D, bà Nguyễn Thị Kim L, bà Võ Thị H...
Các tài sản thế chấp chủ yếu là đất nông nghiệp tại nhiều địa phương ở Sóc Trăng (cũ), với diện tích từ vài nghìn đến hàng chục nghìn m2 mỗi thửa.
Ngoài đất đai, doanh nghiệp còn thế chấp cả tài sản hình thành trong tương lai là tôm nuôi trong ao với tổng giá trị hơn 41 tỷ đồng theo hợp đồng bảo đảm ký năm 2011.
Tuy nhiên, theo xác nhận của chính quyền địa phương, số tôm nuôi này sau đó bị thiệt hại do dịch bệnh đỏ thân, đốm trắng và hội chứng hoại tử gan tụy nên tài sản không còn.
Phía ngân hàng cho biết sau khi được giải ngân, Công ty P. không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ từ khoảng tháng 3/2012. Trong quá trình vay, doanh nghiệp đã thanh toán được hơn 6,64 tỷ đồng nhưng sau đó mất khả năng chi trả.
Do công ty đã bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và bị xóa tên khỏi sổ đăng ký doanh nghiệp từ năm 2015, ngân hàng khởi kiện yêu cầu các thành viên gồm ông Lê Quốc T, bà Nguyễn Thị P, bà Trần Thị Thu H và bà Lê Thị Bích L thực hiện nghĩa vụ trả nợ trong phạm vi phần vốn góp tại công ty.
Xin giảm lãi hơn 37 tỷ đồng nhưng không được chấp nhận
Trong quá trình giải quyết vụ án, các bị đơn thừa nhận Công ty P. có vay tiền của ngân hàng và đồng ý thanh toán khoản nợ trong phạm vi tài sản của công ty cùng các tài sản bảo đảm.
Ông Lê Quốc T. cho rằng, nhiều tài sản đứng tên bên thứ ba thực chất là tài sản do công ty nhận chuyển nhượng nhưng chưa sang tên. Do cần vốn kinh doanh nên công ty nhờ các cá nhân đứng tên giấy tờ đất rồi ký hợp đồng thế chấp với ngân hàng.
Tại bản án sơ thẩm tháng 6/2025, Tòa án nhân dân TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (nay là Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cần Thơ) chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng.
Tòa buộc ông Lê Quốc T., bà Trần Thị Thu H., bà Nguyễn Thị P và bà Lê Thị Bích L. có trách nhiệm trả cho ngân hàng hơn 91,2 tỷ đồng gồm nợ gốc và lãi.
Ngoài số tiền này, từ ngày 19/6/2025, các thành viên công ty còn phải tiếp tục chịu khoản lãi quá hạn phát sinh theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
Tòa cũng tuyên nếu các thành viên công ty không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý các tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
Sau bản án sơ thẩm, ngày 3/7/2025, ông Lê Quốc T. kháng cáo xin giảm phần lãi và lãi phát sinh.
Tại phiên phúc thẩm, ông T. vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nhưng phía ngân hàng không đồng ý giảm lãi.
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định khi ký kết hợp đồng tín dụng, các bên đã tự nguyện thỏa thuận mức lãi suất nên phải có trách nhiệm thực hiện đúng cam kết.
Theo tòa, ông T. không cung cấp được tài liệu chứng minh mức lãi suất trái quy định hoặc có thỏa thuận về điều kiện được giảm lãi. Trong khi đó, phía ngân hàng cũng không chấp nhận yêu cầu giảm lãi nên không có căn cứ xem xét.
Do đó, Tòa án nhân dân TP Cần Thơ quyết định không chấp nhận kháng cáo của ông T., giữ nguyên toàn bộ bản án sơ thẩm.
