Nghị quyết số 36-NQ/TW đã xác định rõ mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Tiếp đó, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy lập pháp trong kỷ nguyên mới, coi pháp luật là công cụ kiến tạo và dẫn dắt phát triển.

Ngay sau khi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015) được Quốc hội thông qua, Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan có liên quan xây dựng, ban hành các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; các văn bản được giao xây dựng trong Luật và đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành ban hành đầy đủ và kịp thời để triển khai thi hành Luật.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có biển đã chủ động rà soát các điều, khoản trong Luật và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành để quy định chi tiết việc thi hành ở địa phương đảm bảo phù hợp và hiệu quả. 

Công tác phổ biến, tuyên truyền Luật đã được thực hiện một cách nhanh chóng, kịp thời, “phủ sóng” đến nhiều đối tượng khác nhau (từ cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về biển và hải đảo đến lực lượng thực thi pháp luật trên biển, các doanh nghiệp có hoạt động khai thác, sử dụng biển, ngư dân, cộng đồng dân cư và toàn thể nhân dân) thông qua các hình thức, phương thức tiếp cận đa dạng.

W-Đại dương.JPG.jpg
Việt Nam thực hiện đầy đủ và có trách nhiệm các điều ước, thỏa thuận quốc tế về biển và đại dương.

Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam được Luật quy định tổ chức từ ngày 01 đến ngày 08 tháng 6 hằng năm. Hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (trước đây là Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã phối hợp với các bộ, ngành và lựa chọn 01 tỉnh, thành phố có biển đăng cai tổ chức với chủ đề phù hợp thực tiễn từng năm và chủ đề Ngày Đại dương thế giới. Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam đã trở thành hoạt động tuyên truyền, vận động mọi người dân nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường biển nhằm bảo tồn, phát huy giá trị của tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; lòng tự hào, ý thức dân tộc đối với chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước.

Về giao khu vực biển: Các tổ chức, cá nhân được giao khu vực biển đã triển khai, thực hiện dự án đầu tư trên biển theo các quyết định giao và nộp tiền sử dụng khu vực biển theo quy định của pháp luật, góp phần khẳng định đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về quản lý, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên các vùng biển của Việt Nam.

Chương trình khoa học và công nghệ: Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 1034/QĐ-BKHCN ngày 20/6/2022 phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia giai đoạn đến năm 2030: "Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển", mã số KC.09/21-30 với mục tiêu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để khai thác, bảo vệ, sử dụng hiệu quả tiềm năng, lợi thế của biển, tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững kinh tế biển.

Hành lang bảo vệ bờ biển: Đến nay, 21/21 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có biển đã phê duyệt Danh mục các khu vực phải thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển (đạt 100%); 19/21 tỉnh, thành phố đã phê duyệt chiều rộng, ranh giới hành lang bảo vệ bờ biển (90%); 13/21 tỉnh, thành phố đã cắm mốc giới hành lang bảo vệ bờ biển (60%).

Theo thống kê sơ bộ, có khoảng hơn 560 khu vực ven biển, hải đảo được thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển với tổng chiều dài gần 1.700km (khoảng 50% chiều dài bờ biển). Việc xây dựng hành lang bảo vệ bờ biển đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền tiếp cận của người dân, bảo vệ tính mạng và tài sản của người dân ven biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; bảo vệ các công trình, dự án của nhà đầu tư; tạo hành lang pháp lý để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế khu vực ven biển, hải đảo.

Kiểm soát ô nhiễm và ứng phó sự cố tràn dầu trên biển: Qua 10 năm triển khai, công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; ứng phó, khắc phục sự cố tràn dầu, hóa chất độc trên biển; nhận chìm ở biển được quan tâm, chú trọng đạt được nhiều kết quả khích lệ. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Kế hoạch quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu, Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu, Quy chế hoạt động ứng phó sự cố hóa chất độc.

Các văn bản này đã góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động ứng phó, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan, việc giám sát, đánh giá rủi ro, khắc phục, giải quyết hậu quả sự cố tràn dầu trên các vùng biển Việt Nam. Báo cáo hiện trạng môi trường biển và hải đảo quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 đã làm rõ về hiện trạng môi trường biển và hải đảo, tác động của ô nhiễm môi trường biển và hải đảo, các cơ hội, thách thức và giải pháp bảo vệ môi trường biển và hải đảo.

Ngày 07/3/2024, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quyết định số 224/QĐ-TTg về việc quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 làm cơ sở quan trọng để cho các bộ, ngành liên quan và địa phương tổ chức triển khai quan trắc môi trường thống nhất trên hệ thống trên phạm vi cả nước.

Kết quả quan trắc, giám sát được thực hiện định kỳ các năm đã cung cấp thông tin, dữ liệu quan trọng phục vụ công tác quản lý môi trường biển như: nghiên cứu khoa học, xây dựng báo cáo hiện trạng môi trường biển quốc gia; xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển.

Bên cạnh đó, kết quả còn cung cấp những thông tin, dữ liệu về hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường biển, sự cố môi trường (thuỷ triều đỏ, ô nhiễm dầu, dữ liệu động đất, sóng thần,...), thông tin về bảo vệ môi trường trong hoạt động y tế tại các cơ sở y tế trên toàn quốc, trong đó có y tế khu vực biển, hải đảo và những tác động xấu đến môi trường ở các vùng biển của nước ta; phục vụ công tác giám sát và cảnh báo môi trường biển góp phần phát triển kinh tế - xã hội, an ninh và chủ quyền trên biển.

Bên cạnh đó, Việt Nam tiếp tục thực hiện đầy đủ và có trách nhiệm các điều ước, thỏa thuận quốc tế về biển và đại dương mà Việt Nam là thành viên; đã thực hiện hiệu quả các thỏa thuận song phương và đa phương về bảo tồn biển. Nhiều nhiệm vụ hợp tác với các quốc gia ven Biển Đông như Philippines, Indonesia, Malaysia được triển khai trên các lĩnh vực khoa học biển, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương, tuần tra chung, chống khai thác IUU và phòng ngừa ô nhiễm, bảo vệ môi trường biển. 

Năm 2025, trước bối cảnh trong nước và quốc tế đã có nhiều thay đổi căn bản; Quy hoạch không gian biển quốc gia đã được Quốc hội thông qua, Việt Nam đã phê chuẩn Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học tại các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ) ; chủ trương sắp xếp đơn vị hành chính và mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai mạnh mẽ. Những yếu tố này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đánh giá lại và sửa đổi, bổ sung toàn diện khung khổ pháp lý hiện hành, chuyển từ tư duy “quản lý, kiểm soát” sang tư duy “kiến tạo, phát triển” và quản trị dựa trên hệ sinh thái, chuyển đổi số.