Vỡ nợ sau vài tháng, khoản nợ 3,2 cây vàng kéo dài 14 năm

Do có mối quan hệ quen biết, vợ chồng ông Phạm Văn C., bà Phạm Thị M. (Bắc Ninh) cho vợ chồng ông Vương Ngọc T., bà Nguyễn Thị T. vay 3 cây và 2 chỉ vàng SJC.

Khoản vay được thể hiện trong “giấy vay vàng” lập ngày 20/1/2012 tại nhà ông C., bà M. do chính bà T. viết và có chữ ký của cả hai vợ chồng.

Nội dung giấy vay thể hiện vợ chồng bà T. vay của ông C., bà M. tổng cộng 3,2 cây vàng SJC, lãi suất mỗi cây 1 triệu đồng/tháng và khi cần phải trả cả gốc, lãi.

Sau khi vay khoảng 3-4 tháng, việc kinh doanh của gia đình ông bà T. gặp khó khăn dẫn đến vỡ nợ. Ông C., bà M. đến nhà yêu cầu trả số vàng đã vay nhưng vợ chồng ông T. không thanh toán.

Do đó, vợ chồng ông C., bà M. khởi kiện, yêu cầu vợ chồng ông bà T. trả 3,2 cây vàng SJC. Theo mức giá nhẫn tròn trơn được một cửa hàng cung cấp trong hồ sơ là 14,5 triệu đồng/chỉ, số vàng này được tính tương đương 464 triệu đồng.

Cùng với tiền gốc, nguyên đơn yêu cầu khoản lãi tính từ ngày 20/1/2012 đến ngày 20/11/2025, tương đương 166 tháng. Với mức 3,2 triệu đồng/tháng, tiền lãi được tính là 531,2 triệu đồng, nâng tổng số tiền yêu cầu lên 995,2 triệu đồng.

W-vay vang SJC.jpg
Vợ chồng ở Bắc Ninh cho vay 3,2 cây vàng SJC từ năm 2012, sau 14 năm, yêu cầu bên vay trả cả gốc và lãi hơn 1 tỷ đồng khi giá vàng tăng cao. Ảnh minh họa: Minh Hiền

Trong quá trình giải quyết vụ án, do giá vàng tăng, ông C., bà M. thay đổi yêu cầu. Với mức lãi 1 triệu đồng/cây/tháng, tương ứng 3,2 triệu đồng/tháng cho khoản vay 3,2 cây vàng, nguyên đơn tính tiền lãi trong 166 tháng là 531,2 triệu đồng; tổng cộng là 1,043 tỷ đồng.

Vợ chồng ông bà T. xác nhận giấy vay vàng ngày 20/1/2012 do mình viết và có chữ ký của hai vợ chồng.

Bà T. trình bày, do làm ăn khó khăn nên chưa có điều kiện trả nợ. Bà cho biết trước khi đi chấp hành án vào năm 2019 đã trả cho ông C., bà M. tổng cộng 67 triệu đồng, gồm 5 triệu đồng đưa cho chị D. là con gái ông C., bà M. và 62 triệu đồng đưa trực tiếp cho ông C., bà M.

Theo bà T., việc trả 67 triệu đồng có giấy xác nhận do bà viết, có chữ ký của vợ chồng nhưng chỉ có một bản gốc và ông C., bà M. giữ nên bà không cung cấp được.

Đến năm 2023, sau khi chấp hành án xong trở về địa phương, bà T. cho biết ông C., bà M. tiếp tục đến nhà đòi tiền nhưng vợ chồng bà chưa có khả năng trả.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà T. thừa nhận khoản vay 3,2 cây vàng SJC và đồng ý trả số vàng này bằng tiền, theo mức quy đổi 150 triệu đồng/cây, tương đương 480 triệu đồng. Tuy nhiên, bà không đồng ý trả lãi. Về khoản 67 triệu đồng đã trả, bà thừa nhận không có giấy tờ chứng minh.

Tòa hai cấp bác yêu cầu đòi hơn 531 triệu đồng tiền lãi

Ngày 30/3/2026, Tòa án nhân dân khu vực 7 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện.

Tòa buộc ông T., bà T. phải trả cho ông C., bà M. 480 triệu đồng. Đây là số tiền quy đổi từ 3,2 cây vàng SJC theo mức 150 triệu đồng/cây mà các bên thống nhất.

Tòa không chấp nhận yêu cầu đòi 531 triệu đồng tiền lãi của nguyên đơn. 

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 3/4/2026, ông C., bà M. kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy một phần bản án liên quan đến thời hiệu và tiền lãi; buộc bị đơn trả đúng 3,2 cây vàng SJC theo giá thị trường tại thời điểm xét xử phúc thẩm và trả tiền lãi, hoặc lãi chậm trả 10%/năm trên giá trị vàng trong hơn 13 năm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông C., bà M. giữ nguyên yêu cầu và đề nghị sửa bản án sơ thẩm, buộc bị đơn trả tiền lãi. Bà T. không đồng ý với kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Ninh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông C., bà M. và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

HĐXX phúc thẩm xác định các bên đều thừa nhận khoản vay 3,2 cây vàng SJC và thống nhất quy đổi thành 480 triệu đồng. Vì vậy, việc cấp sơ thẩm buộc ông T., bà T. trả 480 triệu đồng cho ông C., bà M. là có căn cứ.

Đáng chú ý, về yêu cầu tiền lãi, HĐXX cho rằng, tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời điểm giải quyết vụ án, pháp luật không có quy định về mức lãi suất áp dụng đối với hợp đồng vay bằng vàng. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu trả lãi của nguyên đơn trên số vàng 3,2 cây vàng SJC đã cho bị đơn vay là phù hợp.

Tòa phúc thẩm cũng nêu, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì phải chịu khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo quy định. HĐXX xác định không có căn cứ tính lãi chậm trả trong toàn bộ thời gian từ năm 2012 đến trước khi bản án có hiệu lực.

Từ đó, HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông C., bà M., giữ nguyên bản án sơ thẩm.

(Bài viết dựa trên Bản án số 227/2026/DS-PT ngày 17/7/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh)