Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn mà bất định trở thành trạng thái bình thường mới. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi không còn là lựa chọn mà là điều kiện để doanh nghiệp duy trì năng lực cạnh tranh và phát triển dài hạn.

Với doanh nghiệp Việt Nam, thách thức không chỉ là chống chịu trước biến động mà còn phải chuyển hóa khả năng ứng biến thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Chuyển đổi bền vững vì thế cần được nhìn nhận như quá trình nâng cấp năng lực quản trị thích ứng, từ nhận diện đúng biến động đến tái thiết kế mô hình kinh doanh.

Đây cũng là tinh thần của Hội thảo quốc tế CIBM 2026 với chủ đề “Chuyển đổi bền vững doanh nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên bất định: ESG, số hóa và năng lực chống chịu”, nơi mô thức quản trị 3C – Cảnh thức, Cơ biến, Cách tân được đề xuất như một hướng tiếp cận mới cho doanh nghiệp Việt.

Cảnh thức: Đọc đúng tín hiệu chiến lược

Cảnh thức là năng lực nhận diện đúng sự thay đổi của luật chơi cạnh tranh. Doanh nghiệp ngày nay không chỉ được đánh giá bằng giá thành, tốc độ hay chất lượng sản phẩm, mà còn bằng khả năng minh bạch dữ liệu, thực hành trách nhiệm xã hội và duy trì hoạt động ổn định trước biến động.

Nhà đầu tư, khách hàng và đối tác ngày càng quan tâm tới cách doanh nghiệp tạo ra giá trị: Nguồn gốc nguyên liệu, mức tiêu thụ năng lượng, điều kiện lao động hay khả năng kiểm soát rủi ro chuỗi cung ứng. Những yếu tố này đang dần trở thành tiêu chuẩn cạnh tranh mới.

Công ty TNHH MTV Cao su 75(Z175), Xuân Sơn, Sơn Tây, Hà Nội 19.jpg
Với doanh nghiệp Việt Nam, thách thức không chỉ là chống chịu trước biến động mà còn phải chuyển hóa khả năng ứng biến thành lợi thế cạnh tranh bền vững. Ảnh: Hoàng Hà

Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn xem ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị doanh nghiệp), là chi phí tuân thủ, số hóa là mua sắm công nghệ và chống chịu là khả năng vượt qua khủng hoảng. Hệ quả là doanh nghiệp có thể sử dụng ngôn ngữ bền vững và công cụ số nhưng mô hình quản trị bên trong gần như không thay đổi.

Cảnh thức đúng đòi hỏi thay đổi cách nhìn nhận. Vấn đề không phải lựa chọn giữa tăng trưởng và bền vững, mà là thiết kế mô hình tạo giá trị trong đó phát triển bền vững trở thành điều kiện của tăng trưởng dài hạn. Doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng sẽ giảm chi phí; doanh nghiệp minh bạch dữ liệu ESG sẽ gia tăng niềm tin; doanh nghiệp có chuỗi cung ứng chống chịu tốt sẽ giảm thiểu rủi ro đứt gãy.

Khi đó, ESG, số hóa và chống chịu không còn là các mục tiêu riêng lẻ mà trở thành nền tảng của năng lực cạnh tranh mới.

Cơ biến: Chuyển nhận thức thành năng lực thực thi

Nếu Cảnh thức giúp doanh nghiệp hiểu đúng luật chơi mới, thì Cơ biến giúp chuyển nhận thức đó thành hành động cụ thể. Thách thức của nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay nằm ở việc thiếu một kiến trúc thực thi đủ rõ ràng dựa trên ba trụ cột: dữ liệu, quy trình và trách nhiệm.

Trước hết là dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp có dữ liệu nhưng phân tán ở nhiều phòng ban và định dạng khác nhau. Khi dữ liệu về sản xuất, năng lượng, lao động hay khách hàng không được chuẩn hóa, doanh nghiệp khó đo lường hiệu quả ESG, theo dõi rủi ro hoặc đưa ra quyết định kịp thời. Vì vậy, chuyển đổi số cần bắt đầu từ nền tảng dữ liệu đáng tin cậy, liên tục và có thể kiểm chứng.

Tiếp theo là quy trình. Công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi giúp chuẩn hóa hoạt động, giảm sai sót, tự động hóa công việc lặp lại và chuyển dữ liệu vận hành thành dữ liệu quản trị. Nếu quy trình chưa được thiết kế hợp lý, số hóa chỉ làm gia tăng chi phí mà không cải thiện hiệu quả.

Cuối cùng là trách nhiệm. Chuyển đổi bền vững không thể giao cho một bộ phận chuyên trách nếu thiếu quyền hạn và sự phối hợp liên phòng ban. Mỗi chỉ tiêu ESG, mỗi dữ liệu phát thải hay mỗi sáng kiến số hóa đều cần có người chịu trách nhiệm, cơ chế cập nhật và hệ thống kiểm chứng rõ ràng.

Vai trò của lãnh đạo đặc biệt quan trọng trong việc xác định ưu tiên chiến lược, phân bổ nguồn lực và kết nối mục tiêu dài hạn với hoạt động hằng ngày. Bởi suy cho cùng, chuyển đổi bền vững không chỉ là thay đổi công nghệ mà còn là thay đổi văn hóa và kỷ luật thực thi trong toàn tổ chức.

Cơ biến vì thế chính là bước chuyển từ “biết cần thay đổi” sang “biết thay đổi như thế nào”, giúp doanh nghiệp xây dựng nền tảng vận hành đủ vững để thích ứng với biến động.

Cách tân: Tái thiết kế mô hình tạo giá trị

Nếu Cảnh thức là nhận diện, Cơ biến là thực thi, thì Cách tân là bước chuyển sâu hơn: tái thiết kế mô hình tạo giá trị của doanh nghiệp.

Ở giai đoạn này, chuyển đổi bền vững không còn là việc đáp ứng tiêu chuẩn hay bổ sung các hoạt động “xanh”, mà là tích hợp ESG, số hóa và năng lực chống chịu vào chiến lược kinh doanh cốt lõi. Doanh nghiệp không chỉ cạnh tranh bằng chi phí thấp hay khả năng xoay xở linh hoạt, mà bằng niềm tin thị trường, dữ liệu đáng tin cậy, năng suất cao hơn và khả năng tái cấu trúc nhanh hơn trước biến động.

Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, Cách tân có thể bắt đầu từ những thay đổi thiết thực như chuẩn hóa dữ liệu khách hàng, kiểm soát năng lượng, giảm hao hụt vật liệu, cải tiến sản phẩm, truy xuất nguồn gốc hoặc nâng cao tiêu chuẩn lao động. Giá trị của những hoạt động này chỉ thực sự phát huy khi được kết nối thành một phương thức vận hành mới.

Với doanh nghiệp lớn, Cách tân cần tiến xa hơn, hướng tới tái cấu trúc mô hình kinh doanh và vai trò trong chuỗi giá trị. Bên cạnh đầu tư vào công nghệ, dữ liệu, nghiên cứu phát triển và quản trị ESG, doanh nghiệp lớn cần dẫn dắt hệ sinh thái đối tác cùng nâng cao tiêu chuẩn quản trị và tính minh bạch. Khi đó, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở một doanh nghiệp đơn lẻ mà ở toàn bộ chuỗi giá trị thông minh, bền vững và chống chịu tốt hơn.

Cách tân chính là bước chuyển từ “thích ứng để tồn tại” sang “thích ứng để tạo lợi thế”, giúp doanh nghiệp biến sức bền sinh tồn thành năng lực tái thiết kế giá trị và nâng cao vị thế cạnh tranh trong dài hạn.

Tạo ra nhiều giá trị hơn

Trong kỷ nguyên bất định, chuyển đổi bền vững không cho phép doanh nghiệp chỉ phản ứng hoặc cam chịu trước biến động. Điều quan trọng là học nhanh hơn sau mỗi cú sốc, tái cấu trúc nhanh hơn sau mỗi thay đổi và tạo ra nhiều giá trị hơn qua mỗi lần thích ứng.

Con đường này không dừng ở việc đáp ứng các tiêu chuẩn ESG, triển khai công nghệ số hay tăng cường khả năng chống chịu, mà hướng tới nâng cấp toàn diện năng lực quản trị thích ứng. Khi ESG tạo dựng niềm tin, số hóa nâng cao hiệu quả vận hành và năng lực chống chịu hỗ trợ tái cấu trúc, doanh nghiệp mới có thể chuyển hóa lợi thế ứng biến vốn có thành năng lực cạnh tranh bền vững.

Điều đó đòi hỏi doanh nghiệp Việt không chỉ dựa vào kinh nghiệm hay khả năng xoay xở tình huống, mà cần xây dựng một hệ thống quản trị thích ứng gồm Cảnh thức để nhận diện đúng biến động,

Cơ biến để tổ chức thực thi hiệu quả và Cách tân để tái thiết kế mô hình tạo giá trị. Đây cũng là tinh thần cốt lõi của mô thức 3C – nền tảng giúp doanh nghiệp chuyển từ “ứng biến để cầm cự” sang “thích ứng để vượt lên” trong kỷ nguyên bất định.

PGS.TS. Phan Chí Anh, Viện trưởng Viện Quản trị Kinh doanh (SBA), Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
TS. Phạm Mạnh Hùng, Viện Quản trị Kinh doanh (SBA), Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN