Khu vực tư nhân Việt Nam đang bắt đầu có dấu hiệu hồi sức sau Nghị quyết 68.

Theo báo cáo PCI 2025 của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), đến hết năm 2025, cả nước có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 6,6% so với năm trước. Cùng với khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh, khu vực tư nhân hiện tạo việc làm cho khoảng 26 triệu lao động, tương đương hơn một nửa tổng số việc làm của nền kinh tế.

Sau giai đoạn khó khăn kéo dài từ 2023 đến 2024, niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp cũng đang dần quay trở lại.

Năm 2025, số doanh nghiệp gia nhập thị trường đạt mức kỷ lục 297.500 doanh nghiệp, tăng 27,4% so với năm trước. Có tới 85,7% doanh nghiệp cho biết vẫn duy trì hoặc mở rộng hoạt động.

Dù khó khăn, dòng người mở doanh nghiệp mới vẫn chưa dừng lại. Ngoài thị trường, nhiều người vẫn tiếp tục bỏ vốn làm ăn, mở rộng kinh doanh và tìm cơ hội mới, bất chấp kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.

thep Hoa Phat (215).jpg
Nếu cải cách đi được tới tầng thực thi và không bị đứt giữa đường, hiệu quả sẽ dần xuất hiện trong hoạt động thực tế của doanh nghiệp. Ảnh: Nam Khánh

Dường như chưa bao giờ khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam được kỳ vọng nhiều như lúc này. Nghị quyết 68 lần đầu tiên xác lập kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Điều đó cho thấy doanh nghiệp tư nhân đang dần trở thành lực kéo tăng trưởng quan trọng hơn trước của nền kinh tế Việt Nam.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp ngoài thị trường vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức.

Từ báo cáo PCI 2025 của VCCI cho thấy một thay đổi khá lạ: Lần đầu tiên sau nhiều năm, nỗi lo lớn nhất của doanh nghiệp Việt Nam không còn là thiếu vốn, mà là tìm khách hàng.

Cụ thể, có tới 60,2% doanh nghiệp cho biết khó khăn lớn nhất năm 2025 là tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm, tăng rất mạnh so với mức 45,3% của năm trước. Nhiều doanh nghiệp giờ không còn hỏi vay được bao nhiêu tiền, mà lo tháng tới còn giữ được khách hàng và đơn hàng hay không.

Điều đáng suy nghĩ là dù số doanh nghiệp gia nhập thị trường tăng mạnh, số doanh nghiệp rút lui cũng tăng. Nếu giai đoạn 2016-2020, cứ khoảng 2 doanh nghiệp gia nhập thị trường mới có 1 doanh nghiệp rút lui, thì hiện nay tỷ lệ ấy gần như đã tiến sát mức 1:1.

Thị trường doanh nghiệp giờ đào thải khốc liệt hơn trước nhiều. Doanh nghiệp mở ra nhiều, nhưng đóng lại cũng nhanh.

Câu chuyện vốn cũng cho thấy một nghịch lý khá rõ của nền kinh tế. Cũng theo báo cáo của VCCI, có tới 75,5% doanh nghiệp cho biết họ không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm, trong khi tỷ lệ khoản vay yêu cầu thế chấp tại Việt Nam lên tới 93,5%, cao hơn rất nhiều nước trong khu vực. Ở nhiều nơi, sổ đỏ vẫn dễ được tin hơn một ý tưởng kinh doanh.

Đó cũng là lý do nhiều startup công nghệ ở Việt Nam thường phải tự lớn bằng vốn của chính mình trong một thời gian rất dài trước khi tiếp cận được nguồn vốn thực sự.

Khó hơn cả có lẽ là khả năng dự báo chính sách. Chỉ khoảng 6-8% doanh nghiệp cho biết họ có thể thường xuyên dự đoán các thay đổi chính sách, còn hơn một nửa phải theo dõi mạng xã hội để cập nhật dự thảo văn bản pháp luật. Với doanh nghiệp, điều khó nhất nhiều khi không phải luật chặt, mà là luật thay đổi quá nhanh hoặc khó đoán trước cách thực thi.

Chi phí không chính thức cũng vẫn là câu chuyện chưa cũ. Có khoảng 26% doanh nghiệp phản ánh phát sinh chi phí không chính thức khi xin giấy phép kinh doanh, cao gần gấp 3 mức trung bình khu vực.

Nhiều doanh nghiệp nhỏ nói rằng thứ họ sợ không phải một khoản phí lớn mà là những khoản chi nhỏ khó gọi tên, khiến chi phí kinh doanh đội lên.

Lãnh đạo VCCI nói một câu khá đúng với tâm trạng của nhiều doanh nghiệp hiện nay: “Vấn đề bây giờ không phải là thiếu chính sách, mà là thực thi chính sách như thế nào để doanh nghiệp thực sự cảm nhận được sự thay đổi.”

Doanh nghiệp hiện không chỉ cần thủ tục nhanh hơn. Họ cần một môi trường đủ ổn định để người ta dám bỏ tiền đầu tư lớn và tính chuyện làm ăn vài năm tới.

Theo VCCI, chất lượng điều hành có độ trễ vài năm, nhưng nếu cải cách đi được tới tầng thực thi và không bị đứt giữa đường, hiệu quả sẽ dần xuất hiện trong hoạt động thực tế của doanh nghiệp.

Làn sóng hứng khởi từ Nghị quyết 68 hiện xuất hiện rõ hơn ở nhóm doanh nghiệp lớn, trong khi nhiều doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh vẫn còn khá dè dặt.

Khoảng cách lớn nhất của nhiều doanh nghiệp Việt hiện nay có lẽ vẫn là công nghệ và quản trị. Chỉ khoảng 8,8% doanh nghiệp có đổi mới sản phẩm hoặc dịch vụ. Nhiều doanh nghiệp Việt vẫn lớn theo kiểu khá thủ công.

Tuy nhiên, khoảng trống ấy cũng cho thấy doanh nghiệp Việt Nam còn rất nhiều đất để lớn nếu tiếp cận được công nghệ, vốn và thị trường trong giai đoạn tới.

Những thay đổi công nghệ hiện nay đang tạo ra nhiều cơ hội mới mà doanh nghiệp nhỏ cũng có thể tham gia vào. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp Việt hiện vẫn vận hành theo mô hình chủ sở hữu kiêm quản lý. Mô hình ấy giúp doanh nghiệp xoay xở nhanh khi còn nhỏ, nhưng cũng khiến nhiều doanh nghiệp khó lớn và khó chuyên nghiệp hóa.

Khoảng 6,1 triệu hộ kinh doanh với gần 10 triệu lao động hiện vẫn là chỗ bám sinh kế của rất nhiều gia đình, báo cáo PCI cho biết. Vì thế, hỗ trợ khu vực này chuyển đổi thành doanh nghiệp cần đi theo hướng giảm gánh nặng tuân thủ và tạo thuận lợi nhiều hơn.

Sau cùng, điều nhiều doanh nghiệp mong nhất lúc này có lẽ không phải thêm ưu đãi, mà là một môi trường đủ ổn định để họ dám đầu tư dài hạn và lớn lên cùng nền kinh tế.

Doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có thể chưa mạnh về quy mô vốn, nhưng nhiều năm qua họ luôn cho thấy một sức chịu đựng rất đặc trưng: càng khó khăn, họ càng xoay xở rất nhanh để giữ được doanh nghiệp của mình.