truong pa tan 1.jpg
Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS xã Pa Tần (Lai Châu) sẵn sàng cho năm học mới. Ảnh: Trang thông tin xã Pa Tần

Hơn 40 ngày cho chặng nước rút trường học vùng biên

Tháng 7/2025, chủ trương đầu tư trường nội trú liên cấp được đặt ra tại 248 xã biên giới đất liền. Đây là khu vực có 956 trường với hơn 625.000 học sinh, nhưng số học sinh đang được học tại 22 trường phổ thông dân tộc nội trú (PTDTNT) hiện chỉ khoảng 7.600 em.

Sau rà soát nhu cầu thực tế, danh mục đầu tư được điều chỉnh còn 229 trường. Trong đó, 108 trường được triển khai trong năm 2025; 121 trường thuộc giai đoạn 2, tổ chức khởi công, động thổ ngày 19/3/2026. Nhóm thứ nhất đặt mục tiêu hoàn thành trước ngày 30/8/2026, nhóm thứ hai hoàn thành trước ngày 30/8/2027.

Trong 108 trường giai đoạn đầu, có 100 trường sử dụng ngân sách Trung ương và 8 trường từ các nguồn vốn khác. Báo cáo tại cuộc họp ngày 19/6 của Ban Chỉ đạo xây dựng trường học cho các xã biên giới với 22 địa phương cho thấy, trong số 100 trường sử dụng vốn Trung ương, có 11 trường đang hoàn thiện và vượt tiến độ; 54 trường đã hoàn thành phần thô; 29 trường có nguy cơ chậm và 6 trường đã chậm tiến độ.

Trường PTDTNT liên cấp Tiểu học và THCS Si Pa Phìn (Điện Biên) là công trình đầu tiên hoàn thành, đưa vào sử dụng từ ngày 31/1/2026.

Tuy nhiên, bức tranh chung vẫn cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa các địa phương. Ngày 20/7, Công điện số 50/CĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ tiếp tục cảnh báo một số dự án chậm hoặc có nguy cơ chậm khi thời gian còn lại không nhiều. Chính phủ yêu cầu các địa phương theo dõi tiến độ hằng tuần, trường hợp cần thiết phải báo cáo hằng ngày; đồng thời điều chuyển nhân lực, thiết bị từ các dự án chưa cấp bách để ưu tiên cho công trình trường học vùng biên.

Bức tranh cập nhật cho thấy khoảng cách tiến độ khá lớn. Tại Đắk Lắk, 3 trường giai đoạn đầu ở Buôn Đôn, Ia Rvê và Ia Lốp cơ bản bám kế hoạch. Địa phương đặt mục tiêu hoàn thành phần xây dựng, lắp đặt thiết bị trước ngày 31/7, sau đó kiểm tra, nghiệm thu và bàn giao trước ngày 30/8.

Trong khi đó, tại Quảng Trị, áp lực vẫn rất lớn. Ngày 22/7, Trường Nội trú tiểu học và THCS Dân Hóa mới đạt khoảng 65% khối lượng hợp đồng, trong khi 5 hạng mục phụ trợ chưa được triển khai. Trường Hướng Phùng đạt khoảng 55%, dù đã huy động gần 300 công nhân cùng 66 cán bộ, chiến sĩ quân đội tham gia thi công. Dự án có tổng vốn gần 360 tỷ đồng, dự kiến phục vụ khoảng 1.600 học sinh.

Trước tình hình này, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Trị Lê Hồng Vinh yêu cầu tăng cường nhân lực, thiết bị, tổ chức thi công khoa học, đồng thời kiểm soát chặt vật liệu đầu vào, tuân thủ thiết kế, bảo đảm phòng cháy chữa cháy, phòng chống sạt lở và khả năng vận hành công trình sau bàn giao.

Đây cũng chính là điểm mấu chốt của cuộc chạy đua hiện nay: Tiến độ không thể đánh đổi bằng việc rút ngắn các công đoạn liên quan trực tiếp đến sự an toàn của học sinh. Khi thời gian càng gấp, yêu cầu giám sát, kiểm định và nghiệm thu càng phải được đặt lên hàng đầu.

Theo Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT, trường phổ thông nội trú được định hướng quy mô khoảng 30 lớp, tương ứng khoảng 1.000 học sinh; diện tích từ 5 đến 10ha, phù hợp điều kiện thực tế từng địa phương. Địa điểm xây dựng phải bảo đảm khả năng ứng phó với sạt lở, bão, lũ và tác động của biến đổi khí hậu; đồng thời có hệ thống điện, nước sạch, xử lý nước thải, giao thông và viễn thông.

Với mô hình nội trú, nghiệm thu không thể chỉ tập trung vào phòng học. Nhà ăn, ký túc xá, hệ thống nước sạch, đường thoát nạn, phòng cháy chữa cháy và xử lý nước thải đều là những hạng mục quyết định khả năng vận hành an toàn.

Công điện số 50/CĐ-TTg cũng yêu cầu các địa phương kiểm định, nghiệm thu từng hạng mục, bảo đảm an toàn kết cấu trước nguy cơ thiên tai, lũ quét; chỉ đưa những phần công trình đạt yêu cầu vào sử dụng.

Yêu cầu này càng cần được đặt ra sớm với nhóm trường giai đoạn hai. Đến cuộc họp ngày 19/6, trong 121 trường đã tổ chức khởi công, động thổ, mới có 48 trường hoàn thành giải phóng mặt bằng, 13 trường được phê duyệt dự án và bốn trường triển khai thi công thực tế.

Vì vậy, lễ khởi công không thể được xem là dấu mốc hoàn thành nhiệm vụ. Với hạn hoàn thành vào tháng 8/2027, các vấn đề về đất đai, thiết kế, vật liệu, nguồn nước và hạ tầng phụ trợ cần được tháo gỡ ngay từ đầu, tránh dồn áp lực vào giai đoạn cuối.

1784705908464_349785485853698417_349785485853698417_76b5c1b9a8fa6993f258758a826836ff.jpg
Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Thanh Thủy (Tuyên Quang) đang gấp rút hoàn thiện, đảm 4bảo đúng tiến độ. Ảnh: Vũ Mừng

Bài toán bắt đầu sau khi bàn giao

Trường PTDTNT liên cấp Tiểu học và THCS Si Pa Phìn (Điện Biên) là ví dụ đầu tiên cho thấy một thực tế: Xây xong trường mới chỉ là bước khởi đầu.

Đây là ngôi trường đầu tiên trên cả nước được xây dựng và đưa vào sử dụng trong chương trình phát triển trường PTDTNT liên cấp tại các xã biên giới đất liền.

Năm học 2025 - 2026, trường có 1.013 học sinh thuộc 31 lớp, trong đó 773 em ở nội trú và 240 em bán trú ăn trưa; đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên gồm 65 người.

Theo ông Nguyễn Văn Dúp - Hiệu trưởng nhà trường, được Báo Điện tử Chính phủ dẫn lời, công việc của giáo viên tại trường nội trú không dừng lại ở giờ học chính khóa, mà kéo dài sang thời gian tự học, sinh hoạt tập thể và rèn luyện kỹ năng sống. Giáo viên phải hiểu hoàn cảnh gia đình, phong tục và tâm lý của những học sinh lần đầu rời bản làng để sống tập trung tại trường.

Điều đó cho thấy một trường quy mô 1.000 học sinh không chỉ cần phòng học và giáo viên giảng dạy. Nhà trường còn cần đội ngũ quản lý học sinh, nhân viên y tế, cấp dưỡng, tư vấn tâm lý; cần phương án đưa đón học sinh ở các bản xa và cơ chế phối hợp thường xuyên với gia đình.

Một vấn đề quan trọng khác là tuyển sinh đúng đối tượng. Thông tư số 12/2026/TT-BGDĐT quy định nhóm học sinh được hưởng chính sách gồm học sinh thường trú tại xã đặt trường, các xã biên giới liền kề và một số nhóm đối tượng liên quan; đồng thời xác định thứ tự ưu tiên trong tuyển sinh nội trú.

Công điện số 50/CĐ-TTg cũng yêu cầu ngăn chặn tình trạng làm sai hồ sơ, lách tiêu chí để trục lợi chính sách. Đây là yêu cầu cần thiết bởi mỗi suất học nội trú đi kèm chỗ ở, bữa ăn và nhiều khoản hỗ trợ từ ngân sách. Nếu xác định sai đối tượng, những học sinh thực sự khó khăn có thể mất cơ hội tiếp cận chính sách.

Khung vận hành của mô hình này cũng tiếp tục được hoàn thiện khi Nghị định số 188/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, quy định học sinh nội trú được hỗ trợ 1,17 triệu đồng tiền ăn và 15 kg gạo mỗi tháng, tối đa 9 tháng trong năm học. Nhà trường được hỗ trợ 100.000 đồng/học sinh/tháng để vận hành, bảo trì công trình, máy móc và thiết bị.

Tuy nhiên, chính sách chỉ phát huy hiệu quả khi được tổ chức thực hiện minh bạch. Bữa ăn phải bảo đảm dinh dưỡng, kinh phí phải đến đúng nơi, thiết bị và công trình phải được bảo trì thường xuyên. Nếu thiếu nguồn lực vận hành ổn định, những công trình được đầu tư hiện đại có thể nhanh chóng xuống cấp, trong khi nhà trường gặp khó khăn trong việc duy trì các điều kiện thiết yếu như điện, nước, chăm sóc học sinh.

Cuộc đua xây dựng trường học vùng biên vì thế có ít nhất 3 chặng đường.

Chặng thứ nhất là hoàn thành công trình đúng tiến độ. Chặng thứ hai là đưa trường vào vận hành an toàn với đầy đủ cơ sở vật chất, thiết bị và nhân lực. Nhưng chặng đường quan trọng nhất là biến khoản đầu tư lớn thành cơ hội học tập thực chất cho trẻ em vùng biên.

Ngày khánh thành có thể đánh dấu thời điểm kết thúc một công trường, nhưng chưa phải điểm kết thúc của chính sách. Tiến độ là điều kiện cần, nhưng chất lượng và sự bền vững mới là đích đến. Bởi hành trình xây dựng trường học vùng biên không kết thúc khi cánh cổng trường mở ra, mà bắt đầu từ khoảnh khắc những học sinh đầu tiên bước vào và tin rằng tương lai của mình có thể được viết nên từ chính nơi đây.