
Xe máy điện đang từng bước khẳng định vị thế như một xu hướng giao thông của tương lai, đặc biệt trong bối cảnh các đô thị lớn đối mặt với áp lực ô nhiễm môi trường và quá tải phương tiện. Trên đường phố hiện nay xe máy điện xuất hiện ngày càng nhiều, từ nhu cầu đi học, đi làm cho tới giao hàng nội đô.
Đáng chú ý, tại một số thành phố lớn, việc nghiên cứu và triển khai lộ trình hạn chế hoặc tiến tới cấm xe máy sử dụng động cơ xăng tại một số khu vực trung tâm khiến xe máy điện trở thành lựa chọn tối ưu nhờ khả năng vận hành êm ái, không phát thải và chi phí sử dụng thấp.
Song hành với sự phát triển nhanh chóng đó là những vấn đề liên quan đến các quy định pháp lý, thủ tục đăng ký xe, loại giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe máy điện và chi phí liên quan... là băn khoăn của không ít người tiêu dùng đang có nhu cầu chuyển sang sử dụng các loại xe điện hiện nay.

Mô tô, xe máy điện, xe đạp điện được phân loại như thế nào?
Theo khoản 1, Điều 34 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, xe mô tô và xe gắn máy (bao gồm cả mô tô điện và xe máy điện) được quy định như sau:
Xe gắn máy là xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ, được thiết kế, sản xuất để hoạt động trên đường bộ, có vận tốc thiết kế không lớn hơn 50 km/h; nếu động cơ dẫn động là động cơ nhiệt thì dung tích làm việc hoặc dung tích tương đương không lớn hơn 50 cm3; nếu động cơ dẫn động là động cơ điện thì công suất của động cơ không lớn hơn 4kW.
Xe mô tô gồm: xe có hai hoặc ba bánh chạy bằng động cơ, được thiết kế, sản xuất để hoạt động trên đường bộ, trừ xe gắn máy; đối với xe ba bánh thì khối lượng bản thân không lớn hơn 400 kg.
Đồng thời, tại khoản 2 Điều 34 cũng quy định: Xe đạp máy, gồm cả xe đạp điện, là xe đạp có trợ lực từ động cơ, nguồn động lực từ động cơ bị ngắt khi người lái xe dừng đạp hoặc khi xe đạt tới tốc độ 25 km/h.
Như vậy, việc phân loại mô tô điện, xe máy điện và xe đạp điện chủ yếu dựa trên tốc độ, công suất động cơ gắn lên những phương tiện đó.
Theo quy định hiện hành, các loại xe cơ giới đường bộ, bao gồm xe máy điện, mô tô điện bắt buộc phải đăng ký và gắn biển kiểm soát, tương tự xe máy chạy xăng. Trong khi đó, xe đạp điện được xếp vào nhóm xe thô sơ, không thuộc diện đăng ký, không cần cấp biển số.

Thủ tục đăng ký xe máy điện như thế nào?
Từ ngày 1/1/2025, việc đăng ký phương tiện cơ giới đường bộ được thực hiện theo quy định tại Thông tư 79/2024/TT-BCA. Theo đó, người dân có thể thực hiện đăng ký xe trực tuyến toàn trình thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia, đồng thời được tùy chọn hoặc tham gia đấu giá biển số định danh theo nhu cầu cá nhân.
Đáng chú ý, từ ngày 1/7/2025, hệ thống mã vùng biển số mới sẽ được áp dụng theo đơn vị hành chính, song các phương tiện đã đăng ký trước thời điểm này vẫn tiếp tục được lưu hành hợp pháp và không bắt buộc phải đổi lại biển số.
Chủ xe cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ gồm giấy khai đăng ký xe theo mẫu ban hành kèm Thông tư 79/2024, CCCD hoặc hộ chiếu còn hiệu lực, hóa đơn mua bán hoặc phiếu xuất xưởng, giấy tờ nhập khẩu hợp lệ (nếu có), biên lai nộp lệ phí trước bạ và giấy ủy quyền trong trường hợp nhờ người khác đi làm thủ tục.
Khi đăng ký lần đầu, phương tiện cần được đưa đến cơ quan công an để đối chiếu số khung, số máy.

Quy trình đăng ký hiện nay gồm việc kê khai thông tin trực tuyến, sau đó mang hồ sơ giấy cùng xe đến cơ quan công an cấp xã để kiểm tra, hoàn tất nghĩa vụ tài chính, bấm biển và nhận giấy chứng nhận đăng ký xe, có thể trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.
Nếu hồ sơ đầy đủ, thời gian giải quyết thường chỉ mất khoảng 1-2 ngày làm việc. Lệ phí cấp biển số dao động từ 300 nghìn đến 1 triệu đồng tùy địa phương, trong khi lệ phí trước bạ được tính với mức chung trên toàn quốc là 2% giá trị xe mới và 1% đối với xe máy đã qua sử dụng.
Người lái xe máy điện cần giấy phép lái xe gì?
Theo quy định tại Điều 59 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ về tuổi, sức khỏe của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, độ tuổi của người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng được quy định như sau:
- Người đủ 16 tuổi trở lên được điều khiển xe gắn máy;
- Người đủ 18 tuổi trở lên được cấp giấy phép lái xe hạng A1, A, B1, B, C1, được cấp chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ để điều khiển xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.
Đồng thời, khoản 1 Điều 57 của Luật cũng quy định về các hạng của giấy phép lái xe (GPLX) như sau:
- Hạng A1 cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh đến 125 cm3 hoặc có công suất động cơ điện đến 11 kW;
- Hạng A cấp cho người lái xe mô tô hai bánh có dung tích xi-lanh trên 125 cm3 hoặc có công suất động cơ điện trên 11 kW và các loại xe quy định cho GPLX hạng A1;
- Hạng B1 cấp cho người lái xe mô tô ba bánh và các loại xe quy định cho GPLX hạng A1;
Như vậy, với xe máy điện có công suất từ 4kW trở xuống, người điều khiển không cần giấy phép lái xe, tuy nhiên vẫn phải đủ 16 tuổi. Các loại xe máy, mô tô điện có công suất trên 4kW đến 11kW cần GPLX hạng A1. Còn xe máy điện trên 11kW cần GPLX hạng A.
| Xe đạp điện | Xe máy điện | Mô tô điện | |
| Định nghĩa, tiêu chuẩn | Xe thô sơ hai bánh có lắp động cơ, vận tốc tối đa 25 km/h và khi tắt máy thì có thể đạp xe đi được | Xe hai hoặc ba bánh, chạy bằng động cơ điện, vận tốc tối đa 50 km/h, công suất không lớn hơn 4kW | Xe hai hoặc ba bánh, chạy bằng động cơ điện, vận tốc tối đa trên 50 km/h, công suất lớn hơn 4kW |
| Độ tuổi được sử dụng | Chưa quy định độ tuổi | Từ đủ 16 tuổi trở lên | Từ đủ 18 tuổi trở lên |
| Giấy phép lái xe |
Không bắt buộc |
Không cần giấy phép lái xe đối với xe máy điện không lớn hơn 4kW |
Giấy phép lái xe hạng A1 đối với xe máy điện trên 4kW đến 11kW Giấy phép lái xe hạng A đối với xe máy điện trên 11kW |
| Đăng ký biển số |
Không bắt buộc |
Bắt buộc |
Bắt buộc |
| Đội mũ bảo hiểm | Bắt buộc | Bắt buộc | Bắt buộc |
(Tổng hợp)
Bạn có góc nhìn nào về nội dung trên? Hãy để lại bình luận bên dưới hoặc chia sẻ bài viết về Báo VietNamNet theo email: otoxemay@vietnamnet.vn. Các nội dung phù hợp sẽ được đăng tải. Xin cảm ơn!
