

Từng nhộn nhịp mỗi dịp tết Trung thu với hơn 100 hộ dân làm lồng đèn thủ công, xóm lồng đèn Phú Bình (phường Hòa Bình, TPHCM) nay chỉ còn 2 hộ gia đình bám trụ. Dù nghề truyền thống ngày một thưa vắng, những người ở lại vẫn miệt mài gìn giữ bằng tình yêu nghề và mong muốn lưu truyền ngọn lửa ấy cho các thế hệ sau.

Trên con đường Trịnh Đình Trọng, ông Nguyễn Trọng Thành, 60 tuổi, một nghệ nhân đã có hơn 40 năm kinh nghiệm gắn bó với nghề làm lồng đèn truyền thống tại làng nghề Phú Bình, vẫn miệt mài bên những khung tre, sợi kẽm và những tấm giấy bóng kính mỗi mùa Trung thu. Ông bắt đầu phụ giúp gia đình làm lồng đèn từ khi mới 10 tuổi và đến tuổi thiếu niên đã có thể tự tay hoàn thiện một sản phẩm, từ khâu làm khung đến trang trí.



Theo ông Thành, giá trị của một chiếc lồng đèn truyền thống nằm ở sự tỉ mỉ và đôi bàn tay của người thợ. Khung đèn được làm thủ công từ tre, kẽm, sau đó bọc giấy bóng kính, ni-lông hoặc vải tùy yêu cầu khách hàng.
Giấy bóng kính cũng có đặc tính co giãn theo thời tiết, chùng xuống khi gặp mưa, độ ẩm cao nhưng sẽ tự căng trở lại khi trời nắng nóng hoặc hơ qua hơi nến.
Nghề làm lồng đèn thủ công đòi hỏi sự kiên trì và chính xác ở từng công đoạn. Chỉ một lần dán lệch hay vẽ sai, người thợ gần như không thể chỉnh sửa mà phải lột bỏ lớp giấy và làm lại từ đầu.

Để chuẩn bị cho mùa Trung thu, gia đình ông Thành bắt đầu công việc từ những tháng đầu năm. Khoảng tháng 1 và tháng 2, người thợ chẻ kẽm, làm khung và chuẩn bị nguyên liệu. Đến các tháng 6, 7 và 8, khi mùa Trung thu bước vào cao điểm, công việc dán giấy, vẽ trang trí diễn ra liên tục. Những ngày bận rộn, cả gia đình bắt đầu làm từ khoảng 8h sáng và kéo dài đến tối muộn.


Tại cơ sở của gia đình ông Thành, lồng đèn được làm từ các mẫu đại trà phục vụ thị trường đến những sản phẩm đặt riêng có giá trị cao. Lồng đèn nhỏ bán tại chợ có giá từ khoảng 10.000 đồng, được sản xuất số lượng lớn, trong khi các mẫu đặt riêng được thực hiện theo kích thước, thiết kế và màu sắc của khách hàng.

Tâm sự với VietNamNet, ông Thành cho biết thị trường lồng đèn truyền thống nay không còn nhộn nhịp như trước. So với thời điểm trước dịch bệnh, sức mua hiện giảm khoảng 50% do kinh tế khó khăn và chi phí mặt bằng tăng cao.

Từng có hàng trăm hộ dân gắn bó với nghề, đến nay xóm lồng đèn Phú Bình chỉ còn 2 hộ vẫn bền bỉ gìn giữ nghề truyền thống của gia đình.


Đôi tay thô ráp là minh chứng cho sự vất vả của nghề làm lồng đèn. Công việc đòi hỏi sự tỉ mỉ, ngồi lâu nên người thợ thường mỏi cổ, đau lưng và ảnh hưởng thị lực. Nghề chỉ nhộn nhịp vài tháng mỗi năm, khiến lớp trẻ, kể cả con cái ông Thành, ngày càng ít mặn mà theo nghề.

Hơn 4 thập kỷ gắn bó với nghề, ông Thành cho biết sẽ còn làm lồng đèn chừng nào sức khỏe cho phép và sẵn sàng truyền nghề miễn phí cho người thực sự đam mê. Với ông, giữ nghề không chỉ cần kỹ thuật mà còn cần tình yêu và sự gắn bó lâu dài.

Cách đó không xa, trên cùng con đường, chúng tôi gặp ông Nguyễn Đình Chiến, nghệ nhân có 35 năm gắn bó với nghề làm lồng đèn truyền thống. Ông cho biết chưa bao giờ việc bám trụ với nghề lại khó khăn như hiện nay, khi đơn hàng năm nay giảm khoảng 80% và xóm lồng đèn không còn cảnh khách mua tấp nập mỗi dịp Trung thu.

Theo ông Chiến, áp lực lớn nhất là sự cạnh tranh của lồng đèn công nghiệp. Trong khi hàng thủ công làm hoàn toàn bằng tay, mỗi ngày chỉ được khoảng 10 chiếc, thì hàng sản xuất bằng máy có thể đạt đến vài trăm, thậm chí 500 chiếc.

Chi phí tăng nhưng giá bán không đổi khiến nhiều gia đình bỏ nghề, trong khi lớp trẻ cũng không mặn mà theo đuổi. Ông Chiến lo nghề làm lồng đèn truyền thống sẽ dần mai một nếu không có người kế tục.

Với ông Chiến và ông Thành, việc bám trụ với nghề không chỉ vì thu nhập hay bán được lồng đèn. Nếu hàng nghìn chiếc lồng đèn công nghiệp có thể giống nhau, mỗi sản phẩm vẽ tay lại mang đường nét và dấu ấn riêng của người thợ. Vì tình yêu nghề, ký ức tuổi thơ và mong muốn giữ lại niềm vui Trung thu cho trẻ nhỏ, hai ông vẫn kiên trì với nghề truyền thống, mong ngọn lửa ấy còn được truyền lại cho các thế hệ sau.

