Mở rộng các trục cao tốc chiến lược

Danh mục do Bộ Xây dựng công bố gồm các dự án mở rộng cao tốc Bắc – Nam phía Đông, hoàn thiện mạng lưới vành đai và xây dựng các tuyến kết nối vùng kinh tế trọng điểm.

Trong đó, hai dự án mở rộng cao tốc Bắc – Nam phía Đông đoạn Mai Sơn – Cam Lộ và Quảng Ngãi – Dầu Giây có vốn đầu tư sơ bộ lần lượt 72.185 tỷ đồng và 78.224 tỷ đồng. Các tuyến được định hướng nâng từ 4 làn xe hạn chế lên 6 làn xe hoàn chỉnh.

Tại khu vực phía Bắc, Vành đai 5 – Vùng Thủ đô Hà Nội được đề xuất đầu tư với quy mô 6 làn cao tốc và đường song hành, đi qua Hà Nội, Ninh Bình, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.

Tuyến đường được kỳ vọng tăng khả năng kết nối giữa các địa phương, phân luồng giao thông từ xa, đồng thời mở rộng không gian phát triển đô thị và công nghiệp quanh Thủ đô.

cao tốc w mai son (Hoàng Hà) ql45 29 2082.jpg
Mạng lưới cao tốc được mở rộng sẽ tăng kết nối liên vùng, tạo động lực phát triển kinh tế và thu hút đầu tư. Ảnh: Hoàng Hà.

Tại Tây Nguyên, các tuyến Pleiku – Buôn Ma Thuột, Buôn Ma Thuột – Gia Nghĩa và Ngọc Hồi – Pleiku được định hướng từng bước hoàn thiện mạng lưới cao tốc khu vực, tăng kết nối giữa các trung tâm kinh tế và vùng sản xuất.

Trong khi đó, cao tốc Nha Trang – Đà Lạt và Phan Thiết – Bảo Lộc được kỳ vọng rút ngắn thời gian di chuyển giữa Tây Nguyên với duyên hải Nam Trung Bộ, tạo thuận lợi cho vận tải hàng hóa, du lịch và kết nối cảng biển.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, danh mục có các tuyến Hà Tiên – Rạch Giá, TPHCM – Vĩnh Long – Cần Thơ – Cà Mau và Hồng Ngự – Trà Vinh. Các dự án hướng đến tăng kết nối giữa những trung tâm kinh tế, vùng sản xuất, cửa khẩu và cảng biển, đồng thời cải thiện liên kết với vùng động lực phía Nam.

Bên cạnh các tuyến xây mới, danh mục còn có dự án mở rộng Vành đai 3 TPHCM dài 76km. Tuyến đường dự kiến được nâng từ 4 làn xe hạn chế lên 8 làn xe, với tổng vốn đầu tư sơ bộ 38.000 tỷ đồng.

Việc mở rộng các tuyến hiện hữu và bổ sung những trục kết nối mới được kỳ vọng tăng năng lực vận tải, giảm áp lực lên mạng lưới đường bộ và tạo điều kiện thu hút đầu tư vào các địa phương.

Bài toán huy động gần 923.000 tỷ đồng

Với tổng vốn đầu tư sơ bộ gần 923.000 tỷ đồng, việc triển khai danh mục đặt ra yêu cầu huy động nguồn lực lớn từ khu vực tư nhân, đồng thời bảo đảm tính khả thi về tài chính và phương án phân chia rủi ro giữa Nhà nước với nhà đầu tư.

Một số dự án đã có nhà đầu tư quan tâm, đề xuất hoặc được giao nghiên cứu. Tuy nhiên, việc được đưa vào danh mục ưu tiên kêu gọi đầu tư không đồng nghĩa các dự án đã hoàn tất thủ tục lựa chọn nhà đầu tư hoặc chắc chắn được triển khai theo phương thức PPP.

Tham gia góp ý về phát triển các dự án đường bộ cao tốc theo phương thức PPP, ông Lê Huyền, Phó chủ tịch UBND tỉnh Khánh Hòa, cho rằng cao tốc giúp mở rộng không gian phát triển, tăng kết nối liên vùng, thúc đẩy du lịch, logistics và thu hút đầu tư.

Thực tế, các đoạn cao tốc Nha Trang – Cam Lâm và Cam Lâm – Vĩnh Hảo được đầu tư theo hình thức BOT/PPP đã góp phần cải thiện kết nối giao thông, cho thấy vai trò của nguồn vốn tư nhân trong phát triển hạ tầng đường bộ.

Tuy nhiên, theo ông Huyền, các dự án PPP vẫn gặp khó khăn trong huy động vốn tín dụng trung và dài hạn, giải phóng mặt bằng và thực hiện cơ chế chia sẻ rủi ro.

Đối với những tuyến đi qua địa hình đồi núi, đèo dốc, suất đầu tư thường cao, thời gian hoàn vốn kéo dài, trong khi khả năng tiếp cận vốn ngân hàng còn hạn chế. Công tác giải phóng mặt bằng cũng có thể kéo dài do khối lượng lớn, thủ tục phức tạp và biến động giá đền bù, tạo áp lực lên ngân sách địa phương.

Một rủi ro khác là lưu lượng xe thực tế thấp hơn dự báo, khiến doanh thu không đạt phương án tài chính ban đầu. Việc xác định doanh thu, kiểm toán và bố trí vốn để thực hiện cơ chế chia sẻ doanh thu cũng có thể làm chậm quá trình xử lý các vướng mắc.

Đại diện Bộ Tài chính cho rằng cần đánh giá kỹ hiệu quả tài chính, khả năng tạo doanh thu và phương án hoàn vốn trước khi quyết định đầu tư theo phương thức PPP.

Với những dự án cần thiết nhưng không bảo đảm hiệu quả tài chính, cơ quan chức năng cần xem xét phương án đầu tư công, sau đó tổ chức nhượng quyền kinh doanh, quản lý hoặc thu phí theo hình thức phù hợp.

Như vậy, bên cạnh việc xác định nguồn vốn, tính khả thi của từng dự án sẽ phụ thuộc vào khả năng cân đối ngân sách, phương án hoàn vốn, cơ chế chia sẻ rủi ro và tiến độ giải phóng mặt bằng. Đây cũng là những yếu tố quyết định khả năng hiện thực hóa danh mục 29 dự án trong giai đoạn 2026-2030.