Kinh tế biển trở thành động lực phát triển đất nước, đóng góp khoảng 3 nghìn tỷ USD mỗi năm, tức 5% GDP của thế giới, bao gồm các ngành chính là dầu khí, vận tải biển, cảng, năng lượng tái tạo, thủy sản, hệ sinh thái biển và du lịch biển. 

Diện tích biển của Việt Nam chiếm khoảng 29% diện tích Biển Đông (gần 1 triệu km2), rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền. Việt Nam có thế mạnh trong vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, siêu trường, siêu trọng, cự ly dài với các tuyến đi nội Á (đi Trung Quốc, Singapore, Malaysia…), các tuyến biển xa đến châu Âu (Hà Lan, Bỉ…) và đến Bắc Mỹ.

Bên cạnh giao thông vận tải biển, dư địa phát triển cho từng lĩnh vực kinh tế biển của Việt Nam còn khá rộng mở như: khai thác và chế biến khoáng sản; khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản, phát triển du lịch biển.

W-Biển Đông 6.jpeg
Biển và hải đảo Việt Nam là một bộ phận quan trọng của Biển Đông.

Tuy nhiên, thách thức lớn đối với sự phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam hiện nay là thực trạng ô nhiễm môi trường biển, đe dọa sự sinh tồn của hệ sinh thái biển, tác động xấu tới nguồn lợi hải sản; với mục tiêu phát triển tập trung vào các yếu tố kinh tế, tăng trưởng ngắn hạn hơn các yếu tố môi trường, coi trọng lợi ích trước mắt hơn hệ quả lâu dài.

Tại Diễn đàn "Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên biển và hải đảo Việt Nam" diễn ra tại Đồng Hới vào trung tuần tháng 12 vừa qua, PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam có bài tham luận với chủ đề “Tổng quan về biển và hải đảo Việt Nam” nhấn mạnh, biển và hải đảo Việt Nam là một bộ phận quan trọng của Biển Đông, không gian biển đặc biệt có ý nghĩa toàn cầu cả về tự nhiên, kinh tế, môi trường... Việc nhận diện đầy đủ giá trị, tính liên kết và những rủi ro môi trường của khu vực này là cơ sở quan trọng cho định hướng khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.

Biển Đông là một trong 64 biển trên thế giới, đồng thời là 1 trong 4 biển lớn nhất, với diện tích khoảng 3,5 triệu km². Biển Đông được bao quanh bởi 10 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có Việt Nam, với tổng dân số khu vực lên tới khoảng 2 tỷ người, bao gồm nhiều nền kinh tế phát triển năng động hàng đầu thế giới.

Biển Việt Nam là một bộ phận không tách rời của Biển Đông, có diện tích rộng gấp khoảng 3 lần lãnh thổ đất liền, chiếm khoảng 29% diện tích Biển Đông. Không gian biển Việt Nam bao gồm đầy đủ các vùng biển theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) trong phạm vi 200 hải lý, thềm lục địa cùng với hai quần đảo ngoài khơi có vị trí chiến lược là Hoàng Sa và Trường Sa.

Về mặt sinh học, Biển Đông là nơi diễn ra các liên kết tiến hóa quan trọng của sinh vật biển. Các hệ sinh thái rạn san hô đóng vai trò then chốt trong việc duy trì đa dạng sinh học biển, phát triển nghề cá và bảo đảm tính bền vững của Biển Đông cũng như kinh tế biển xanh của các quốc gia trong khu vực.

Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018, Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 36) xác định: Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: Du lịch và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; nuôi trồng và khai thác hải sản; công nghiệp ven biển; năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới.

Trước những diễn biến trên Biển Đông, việc thực hiện hiệu quả  Nghị quyết số 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển sẽ góp phần đảm bảo phát triển bền vững kinh tế biển, có chiến lược khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường biển phù hợp. Các ngành kinh tế sử dụng nhiều tài nguyên được giảm mức độ ưu tiên và được thay thế bằng các ngành sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên hơn như du lịch, hàng hải... góp phần phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển.