Biển Đông càng 'nóng', Mỹ càng tham gia sâu?

Trong tương lai, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục tham gia vào nỗ lực quản lý căng thẳng ở biển Đông, nếu các tranh chấp trong việc phân định lãnh thổ và các quyền trên biển vẫn còn nhức nhối.

Trong tương lai, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục tham gia vào nỗ lực quản lý căng thẳng ở biển Đông, nếu các tranh chấp trong việc phân định lãnh thổ và các quyền trên biển vẫn còn nhức nhối.

>> Biển Đông và mặt trận thứ hai

>> Hải quân ASEAN: Sự trỗi dậy để đối phó TQ

>> Cuộc đua sắm tàu chiến tại Đông Nam Á?

LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu Nghiên cứu Chính sách của Mỹ đối với tranh chấp tại biển Đông từ 1995* của M. Taylor Fravel. Tác giả là PGS Khoa học chính trị và là thành viên của Chương trình Nghiên cứu An ninh tại Viện Công nghệ Massachusetts.

Bốn đặc điểm

Một đặc trưng nổi bật trong quan hệ quốc tế của Đông Á trong 5 năm qua là sự nóng lên dần của các căng thẳng trong các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên biển ở Biển Đông. Mặc dù không phải là bên tuyên bố chủ quyền đối với bất kỳ thực thể tranh chấp nào, song Mỹ ngày càng chú ý và tham gia nhiều hơn vào các nỗ lực quản lý tranh chấp trong khu vực.

Chính sách của Mỹ đối với các tranh chấp trên biển Đông có bốn đặc điểm.

Thứ nhất, Mỹ điều chỉnh nội dung chính sách đã tuyên bố của mình theo mức độ căng thẳng trong tranh chấp. Nói cách khác, Mỹ tham gia sâu hơn khi sự căng thẳng giữa các bên tuyên bố gia tăng.

Thứ hai, chính sách của Mỹ đối với biển Đông dựa trên nguyên tắc duy trì sự trung lập đối với các tuyên bố chủ quyền chồng lấn. Tuy vậy, giữa nguyên tắc duy trì sự trung lập và tham gia nhiều hơn vào nỗ lực kiểm soát căng thẳng trong tranh chấp đã tiềm ẩn xung đột, đặc biệt khi một nước được xác định là đối tượng chính khiến căng thẳng leo thang.

Thứ ba, khi tham gia nhiều hơn vào tiến trình quản lý căng thẳng, Mỹ nhấn mạnh đến những quá trình và nguyên tắc mà các bên tuyên bố chủ quyền cần theo đuổi, và sử dụng các nguyên tắc này làm nền tảng cho chính sách của Mỹ, thay vì tập trung vào kết quả hay giải pháp cuối cùng cho các tranh chấp. Đặc biệt Mỹ nhấn mạnh đến hướng quản lý xung đột thông qua việc ký kết một bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc giữa ASEAN và TQ.

Thứ tư, chính sách của Mỹ ở Biển Đông nỗ lực điều chỉnh cách hành xử của TQ trong khu vực bằng cách nhấn mạnh đến những cái giá mà nước này phải trả nếu sử dụng các biện pháp cưỡng ép và theo đuổi những yêu sách không phù hợp với luật pháp quốc tế. Cái giá mà Bắc Kinh phải trả có thể là hình ảnh hoen ố của một đất nước vi phạm luật pháp quốc tế (đặc biệt là Công ước UNCLOS), quan hệ xấu đi với các quốc gia khác trong cuộc tranh chấp, vị thế lớn hơn của Mỹ trong khu vực với vai trò là đối tác của các bên khác trong tranh chấp. Tuy vậy, tuân thủ nguyên tắc trung lập, Mỹ đang cố gắng làm sao để có thể can dự nhiều hơn mà không nghiêng về bên nào.

Trong tương lai, Mỹ sẽ vẫn tiếp tục tham gia vào nỗ lực quản lý căng thẳng ở biển Đông, nếu các tranh chấp trong việc phân định lãnh thổ và các quyền trên biển vẫn còn nhức nhối, và các quốc gia tranh chấp vẫn có tuyên bố hoặc hành động khẳng định, bảo vệ yêu sách của mình. Song, nếu căng thẳng dịu bớt ngay cả khi các vấn đề tranh chấp cơ bản vẫn còn nguyên đó, sự tham gia của Mỹ có thể sẽ giảm. Khi mức độ căng thẳng ở Biển Đông còn liên quan đến hành động của TQ, thì Biển Đông sẽ tiếp tục là vấn đề trong mối quan hệ Mỹ - Trung.

{keywords}
Những năm qua, Biển Đông luôn là một khu vực căng thẳng. Ảnh: Hoàng Sang

Các mối quan tâm của Mỹ ở Biển Đông

Mỹ có hai mối quan tâm chính ở Biển Đông: quyền tiếp cận và sự ổn định. Trước hết, Mỹ quan tâm mạnh mẽ đến việc duy trì quyền tự do tiếp cận các vùng nước của khu vực này. Theo quan điểm của Washington, tất cả các quốc gia đều có quyền tự do, bao gồm cả quyền tự do hàng hải, trên vùng biển nằm ngoài vùng lãnh hải rộng 12 hải lý của bất kỳ quốc gia ven biển nào.

Có hai lý do khiến quyền tự do tiếp cận các vùng nước ở Biển Đông lại quan trọng đến vậy. Thứ nhất là quyền này củng cố động lực kinh tế của khu vực, vốn dựa trên hoạt động thương mại rộng khắp không chỉ ở khu vực, mà còn trên quy mô quốc tế. Vùng nước này là nơi lưu chuyển hơn 5 nghìn tỉ đô-la giao dịch thương mại mỗi năm, trong đó có hơn 1 nghìn tỉ đô-la là giao dịch thương mại với Mỹ.

Thứ hai, khả năng tiếp cận tự do giúp Mỹ duy trì năng lực dự phóng sức mạnh quân sự, không chỉ ở Đông Á mà khắp thế giới. Để ra Ấn Độ Dương và Vịnh Ba Tư, nhiều tàu hải quân của Mỹ từ bờ Tây và Nhật đều phải đi qua Biển Đông.

Tuy nhiên, khả năng tự do tiếp cận ở Biển Đông gặp phải những thách thức sau.

Trước hết là cách diễn giải của TQ về quyền của các quốc gia ven biển đối với Vùng Đặc quyền Kinh tế (EEZ) của mình. Từ sau vụ đụng độ với máy bay EP-3 của Mỹ năm 2001 trên đảo Hải Nam, TQ đã sử dụng đủ mọi lý lẽ pháp lý nhằm mục đích hạn chế các hoạt động quân sự của Mỹ trong Vùng Đặc quyền Kinh tế của nước mình. TQ cũng tìm cách áp đặt quy định giới hạn tương tự trên toàn Biển Đông.

Thách thức thứ hai là hoạt động hiện đại hóa của lực lượng hải quân TQ (PLAN), dần dà tiến trình này sẽ được sử dụng để đánh bật tàu hải quân của Mỹ ra khỏi các vùng nước của khu vực. Tuy nhiên, với tham vọng bành trướng ở Biển Đông, sẽ phải mất vài chục năm nữa Hạm đội Nam Hải của PLAN mới có thể đủ năng lực làm việc này.

Thứ hai, Mỹ rất quan tâm đến việc gìn giữ hòa bình và sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á. Tương tự như quyền tiếp cận mở và tự do, sự ổn định của khu vực cũng giúp duy trì sự thịnh vượng không chỉ của Đông Á mà còn cả của Mỹ.

Sự ổn định của khu vực Biển Đông phải đối mặt với một số nguy cơ. Trước hết là nguy cơ xung đột vũ trang giữa các bên có tuyên bố chủ quyền lãnh thổ chồng lấn đối với các thực thể như đảo và dải san hô, và quyền trên biển như Vùng Đặc quyền Kinh tế. Chẳng hạn hai lần đụng độ giữa VN và TQ vào năm 1974 (Nhóm đảo Lưỡi liềm, quần đảo Hoàng Sa) và năm 1988 (đảo Gạc Ma).

Nguy cơ thứ hai đe dọa sự ổn định là tần suất sử dụng ngày càng thường xuyên các biện pháp cưỡng ép, không bao gồm xung đột vũ trang, để thúc đẩy tuyên bố chủ quyền. Việc TQ đe dọa các công ty dầu khí của Mỹ hoạt động tại khu vực này năm 2007 và 2008 là một ví dụ.

Nguy cơ thứ ba là hoạt động hiện đại hóa lực lượng hải quân của các nước trong khu vực. Vòng xoáy ốc bất ổn định trong các tranh chấp chủ quyền và quyền lãnh hải có thể phát triển thành cuộc chạy đua năng lực và đối đầu an ninh, và theo hướng này khả năng xảy ra đụng độ sẽ gia tăng.

Nguồn thứ tư, là nguy cơ gia tăng nỗ lực tương ứng của TQ và Mỹ trong vấn đề đe dọa và duy trì quyền tiếp cận. Đáp lại năng lực "chống can thiệp/phong tỏa khu vực" mới phát triển của TQ, bao gồm một tên lửa đạn đạo đối hạm, quân đội Mỹ đã phát triển một khái niệm hoạt động mới là Thủy Không tác chiến, nhằm đảm bảo Mỹ có thể tiếp cận các vùng nước này khi chiến sự nổ ra. Những nỗ lực phát triển năng lực như vậy trong thời bình rất dễ dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang "quyền tiếp cận" và khiến nguy cơ bất ổn định gia tăng.

Ngoài quyền tiếp cận và sự ổn định, Mỹ còn quan tâm đến việc duy trì cam kết với các đồng minh trong khu vực, nhưng đồng thời không để các đồng minh lôi mình vào những tranh chấp cụ thể. Một mối quan tâm khác là duy trì mối quan hệ hợp tác và ổn định với TQ, trong đó các tranh chấp hàng hải ở Đông Á chỉ là một phần.

(Còn tiếp)

Hà Trang (lược dịch theo RSIS)

Tên tiếng Anh của Nghiên cứu là "U.S. Policy Towards the Disputes in the South China Sea Since 1995". Tiêu đề các phần chuyển ngữ do Tuần Việt Nam đặt.

tin nổi bật

Ai tăng giá điện?

Cuối tuần vừa rồi, tôi đăng lên trang cá nhân một biểu đồ thể hiện giá điện trung bình và thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam là thấp nhất trong tương quan với một số quốc gia.

Kỳ vọng và áp lực cho đường vành đai 3 TP.HCM

Dự án đường vành đai 3 dài 76,34km đi qua các địa phương TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An. Dự án có tổng mức đầu tư lớn nhất phía Nam với số vốn 75.378 tỉ đồng được thực hiện đầu tư công bằng nguồn ngân sách Trung ương và địa phương.

Những 'nút thắt' trị giá nghìn tỷ

Những “nút thắt” trị giá hàng ngàn tỷ đồng liên quan đến hoàn thuế giá trị gia tăng đang được cơ quan thuế cam kết tháo gỡ sau cuộc đối thoại giữa ngành thuế và các doanh nghiệp vào cuối tuần trước.

Ứng xử với trái phiếu doanh nghiệp

Bức tranh đó cho thấy, người mua trái phiếu doanh nghiệp không có lý gì phải quá lo lắng. Nếu tất cả đổ xô đến “đòi lại” thì không một doanh nghiệp nào có thể trụ được chứ đừng nói là phát triển.

Trụ cột ‘nguồn lực’ trong truyền thông chính sách

Thủ tướng Phạm Minh Chính đã đưa ra một giải pháp quan trọng cho sự phát triển bền vững của báo chí khi cam kết bồi đắp trụ cột “nguồn lực” bằng cách cấp kinh phí theo hướng đặt hàng cho hoạt động truyền thông chính sách.

Báo chí phải trở thành tổ chức công nghệ

Cách đây hơn 20 năm, nhiều tổng biên tập vô cùng tự hào về việc máy in còn đang chạy, hàng chục đầu mối đã ngồi ăn bánh mì để đợi lấy báo đi rao bán.

Đổi mới con người ở vùng đất là mặt tiền quốc gia

Cần nhìn thẳng vào sự thật là khu vực đẹp nhất của đất nước, địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng lại có nhiều chỉ số phát triển thấp hơn mức trung bình của cả nước.

Tiếng chuông cảnh báo sau chuyện đình chỉ hoạt động của một sở

Hôm qua, một câu chuyện hy hữu được báo chí đưa tin: Sở Nội vụ bị tạm đình chỉ hoạt động 1 tháng vì chưa đảm bảo yêu cầu về phòng cháy chữa cháy (PCCC).

Truyền thông là chức năng của chính quyền

Khi các cấp chính quyền chủ động phối hợp truyền thông với các cơ quan báo chí sẽ là nền tảng quan trọng nhất cho việc làm chủ tình hình trong bối cảnh hiện nay.

Cơ hội của Việt Nam trước vòng cải cách mở cửa mới của Trung Quốc

Bản thân mỗi nước đều đang hướng đến phát triển chất lượng cao. Trong giai đoạn trước, điểm tăng trưởng của quan hệ Việt - Trung là thương mại, thầu khoán công trình. Hiện nay và sắp tới điểm tăng trưởng mới của quan hệ Việt - Trung sẽ là gì?

Những thông điệp về trái phiếu doanh nghiệp

Có một điểm cần nhấn mạnh: tuyệt đại đa số trái phiếu doanh nghiệp là có tài sản đảm bảo hoặc được bảo đảm bởi các tổ chức tín dụng.

Việt Nam sẽ vượt bẫy thu nhập trung bình theo cách nào

Việt Nam nỗ lực trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao và thu nhập cao vào năm 2035 và 2045. Tuy nhiên, chúng ta phải vượt qua thách thức không hề nhẹ, nhất là về thể chế.

Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nhà lãnh đạo cải cách tâm huyết

Thủ Tướng Võ Văn Kiệt là nhà lãnh đạo đi tiên phong trong thực hiện cải cách và hội nhập của đất nước ta. Ông đã dũng cảm thực hiện những quyết định đột phá tầm chiến lược để đưa đất nước đi lên.

Tầm nhìn quốc gia Qatar qua lăng kính World Cup

Qatar đã làm nên lịch sử khi lần đầu tiên đưa sự kiện thể thao được theo dõi nhiều nhất trên toàn cầu đến Thế giới Ả Rập và Hồi giáo.

Ông Sáu Dân và đổi mới thể chế

Ngày 9/8/1995, trước Đại hội Đảng lần thứ 8, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã gửi một bức thư tâm huyết cho Bộ Chính trị nêu quan điểm, tư tưởng, khuyến nghị và cảnh báo về một số vấn đề có tầm chiến lược đối với đất nước vào thời điểm lịch sử đó.