
Gửi nội dung câu hỏi đến Bộ Nội vụ, ông H.P., đề nghị Bộ Nội vụ làm rõ cách xác định tiền lương của thành viên hội đồng, kiểm soát viên khi xây dựng kế hoạch tiền lương hằng năm.
Ông P. cho biết, theo khoản 1 Điều 5 Nghị định 248/2025 (quy định chế độ tiền lương, thù lao, tiền thưởng của người đại diện chủ sở hữu trực tiếp, người đại diện phần vốn nhà nước và kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước), trường hợp doanh nghiệp có lợi nhuận và lợi nhuận thực hiện không thấp hơn kế hoạch, mức tiền lương tối đa bằng 2 lần mức lương cơ bản.

Nếu lợi nhuận thực hiện vượt kế hoạch, cứ 1% lợi nhuận vượt kế hoạch được tính thêm 2% mức tiền lương, nhưng phần tăng thêm không quá 20% mức tiền lương tính trên cơ sở 2 lần mức lương cơ bản.
Trường hợp lợi nhuận thực hiện thấp hơn kế hoạch, mức tiền lương tối đa được tính bằng 80% của 2 lần mức lương cơ bản, nhân với tỷ lệ lợi nhuận thực hiện so với lợi nhuận kế hoạch, nhưng không thấp hơn 80% mức lương cơ bản.
Từ quy định trên, ông P. đặt câu hỏi khi xây dựng kế hoạch tiền lương có cần so sánh lợi nhuận kế hoạch với lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề hay chỉ căn cứ vào lợi nhuận năm kế hoạch.
Trả lời nội dung trên, Bộ Nội vụ dẫn Điều 24 Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp (năm 2025).
Theo đó, Nhà nước giao Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty quyết định tiền lương của người lao động, ban điều hành, thành viên hội đồng và kiểm soát viên trên cơ sở hợp đồng lao động, năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh.
Đáng chú ý, mức tiền lương, thù lao chi trả cho thành viên hội đồng, kiểm soát viên không được vượt mức tiền lương, thù lao tối đa quy định tại Nghị định 248/2025.
Như vậy, mức 2 lần lương cơ bản không phải mức mặc nhiên áp dụng cho thành viên hội đồng, kiểm soát viên chỉ vì doanh nghiệp có lợi nhuận. Mức thực tế còn phải được doanh nghiệp quyết định trên cơ sở hiệu quả sản xuất, kinh doanh và trong giới hạn tối đa mà Nghị định 248 quy định.
