
Tiến sĩ Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện khoa học thuốc nam cho biết, ở Việt Nam, sài đất làm thuốc chủ yếu là Wedelia chinensis (nhiều tài liệu cũ ghi Wedelia calendulacea hoặc W. calendulacea var. chinensis). Đây là loại đã được sử dụng trong y học cổ truyền từ rất lâu.
“Tuy nhiên, hiện nay ở các đô thị, người dân trồng rất nhiều sài đất Thái (Sphagneticola trilobata, trước đây gọi là Wedelia trilobata) để phủ đất, làm cảnh. Hai cây có hoa vàng khá giống nhau nên nhiều người lầm tưởng là một”, Tiến sĩ Phương cho biết.
Theo chuyên gia, sài đất làm thuốc thường mọc bò sát đất, thân mềm, màu lục và nhỏ hơn, lá thuôn dài, không có ngạnh 2 bên, hoa cũng nhỏ hơn.
Trong khi đó, sài đất Thái sinh trưởng rất khỏe, thân mập hơn, có màu tía, lá to, dày hơn và thường chia ba thùy ở phần đầu lá, hoa hơi to hơn và được trồng kín các bồn hoa, dải phân cách hoặc công viên.


“Điều quan trọng là không nên vì thấy hình thức giống nhau mà sử dụng thay thế, bởi hiện nay phần lớn các tài liệu và nghiên cứu y học ở Việt Nam đều tập trung vào Wedelia chinensis”, Tiến sĩ Phương lưu ý.
Theo y học cổ truyền, loại sài đất làm thuốc có vị ngọt hơi chua, tính mát, thường được dùng theo hướng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm.
Từ nhiều đời nay, cây được dùng trong các trường hợp mụn nhọt, rôm sảy, mẩn ngứa, sốt nhẹ hoặc viêm họng. Nhiều gia đình trước đây thường nấu nước sài đất để tắm cho trẻ em bị rôm sảy vào mùa hè.
Các nghiên cứu hiện đại cũng cho thấy Wedelia chinensis chứa nhiều flavonoid, coumestan, diterpenoid và các hợp chất phenolic.
Một số nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận cây có hoạt tính chống viêm, chống oxy hóa, kháng khuẩn và bảo vệ gan ở mức độ nhất định. Đặc biệt, một số hoạt chất như wedelolactone đang được quan tâm vì có nhiều hoạt tính sinh học đáng chú ý trong phòng thí nghiệm.
Cây sài đất dùng làm thuốc thường mọc sát đất nên cần tránh thu hái ở nơi ô nhiễm hoặc vừa phun thuốc bảo vệ thực vật.


