
Theo Nghị định số 297/2026, Bộ Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực: công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo và quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật.
Về cơ cấu tổ chức, Bộ Dân tộc và Tôn giáo có các đơn vị: 1. Vụ Kế hoạch - Tài chính; 2. Vụ Tổ chức cán bộ; 3. Vụ Pháp chế; 4. Vụ Hợp tác quốc tế; 5. Vụ Tuyên truyền công tác dân tộc, tôn giáo; 6. Văn phòng; 7. Ban Tôn giáo Chính phủ; 8. Cục Chiến lược và Chính sách dân tộc; 9. Trung tâm Chuyển đổi số; 10. Học viện Dân tộc và Tôn giáo; 11. Báo VietNamNet; 12. Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo.
Các đơn vị từ 1-8 nêu trên là tổ chức hành chính giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và công tác quản trị nội bộ. Các đơn vị từ 9-12 là đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ.
Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo ban hành quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các đơn vị thuộc Bộ (trong đó quy định Vụ Tuyên truyền công tác dân tộc, tôn giáo có 2 bộ phận đóng trụ sở tại tỉnh Đắk Lắk và TP Cần Thơ); trình Thủ tướng ban hành danh mục các đơn vị sự nghiệp công lập khác trực thuộc Bộ theo quy định.

Nghị định nêu rõ Vụ Chính sách, Học viện Dân tộc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật cho đến khi có quyết định của Bộ trưởng Dân tộc và Tôn giáo quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Chiến lược và Chính sách dân tộc, Học viện Dân tộc và Tôn giáo có hiệu lực thi hành.
Nhiệm vụ và quyền hạn
Bộ Dân tộc và Tôn giáo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, quy định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
Trong đó, Bộ trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định, nghị quyết của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Chính phủ và các nghị quyết, dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo cũng trình Chính phủ để trình Quốc hội ban hành các chính sách dân tộc; chính sách tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; trình Chính phủ, Thủ tướng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, trung hạn, hàng năm và các dự án, công trình quan trọng quốc gia thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ...
Về công tác dân tộc, Bộ trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển kinh tế - xã hội ở các xã, thôn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xã biên giới, xã an toàn khu; các chính sách đầu tư, hỗ trợ ổn định cuộc sống cho đồng bào dân tộc thiểu số; các chính sách, dự án hỗ trợ người dân ở các địa bàn đặc biệt khó khăn; các chính sách, dự án bảo tồn và phát triển đối với các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người, các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo trình cấp có thẩm quyền ban hành chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; ban hành chính sách phát triển nguồn nhân lực, thu hút, tăng cường cán bộ, công chức, viên chức công tác tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chính sách nâng cao dân trí, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số, chính sách đặc thù đối với cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc...
Ngoài ra, Bộ cũng trình cấp có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền tiêu chí phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển, danh mục phân định các tỉnh, xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển; tiêu chí xác định các dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo phối hợp với các bộ, cơ quan có liên quan trong việc lập kế hoạch phân bổ nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế - xã hội và các nguồn lực khác cho các địa phương vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; đề xuất và tham gia thẩm định các chương trình, dự án, đề án, chính sách liên quan đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định của pháp luật...
Bộ thực hiện nhiệm vụ quản lý đối với các trường chuyên biệt và cơ sở giáo dục khác khi được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật; thực hiện nhiệm vụ điều tra, khảo sát, nghiên cứu, tổng hợp về tình hình phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc, thành phần dân tộc, tên gọi, phong tục, tập quán các dân tộc thiểu số và những vấn đề khác về dân tộc.
Về tín ngưỡng, tôn giáo, Bộ tổ chức triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chiến lược, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành hoặc phê duyệt.
Bộ sẽ làm đầu mối liên hệ với các tổ chức tôn giáo trong nước và quốc tế, đối ngoại tôn giáo và đấu tranh nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo; thúc đẩy tăng cường khối đại đoàn kết trong cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam.
Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương, cơ quan trung ương của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức có liên quan thông tin, tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
Công tác quản lý về xuất bản các ấn phẩm, sách kinh, tác phẩm, giáo trình giảng dạy, văn hóa phẩm thuần túy tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo được nhà nước cho phép hoạt động... cũng là nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của Bộ.


