Đổi đất, đổi cả tình làng nghĩa xóm
Theo trình bày của bà H. (ngụ tỉnh Tây Ninh), năm 1985, bà có thỏa thuận miệng với cụ Đ. về việc đổi đất tạm thời để sử dụng.
Theo đó, bà cho cụ Đ. mượn một phần đất tại Long An cũ, nay thuộc tỉnh Tây Ninh, để xây dựng nhà máy xay lúa. Đổi lại, bà được sử dụng một phần đất khác của cụ Đ. để trồng đậu phộng.
Việc thỏa thuận chỉ diễn ra bằng lời nói, không lập giấy tờ. Sau vài năm, cụ Đ. lấy lại phần đất đã cho bà mượn canh tác nhưng phần đất bà cho mượn thì không được hoàn trả.
Năm 1991, bà H. được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 4 thửa đất, trong đó có phần đất đã cho cụ Đ. mượn. Theo bà H., nhiều lần đòi lại đất không thành, thậm chí giữa hai bên từng xảy ra cãi vã, xô xát.
Đến năm 2010, bà phát hiện trên phần đất tranh chấp đã có căn nhà cấp 4 do ông T. (con rể cụ Đ.) xây dựng để ở.

Do không thể sử dụng trọn vẹn thửa đất, bà H. bán dần các phần đất còn lại cho nhiều người khác. Riêng phần đất có chiều ngang khoảng 1m chạy dọc theo căn nhà ông T. đang ở, bà cũng bán cho ông T. với giá 5 triệu đồng.
Năm 2018, bà H. phát hiện ông T. đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với toàn bộ phần đất tranh chấp rộng hơn 527m2. Cho rằng phần đất này có nguồn gốc từ thửa đất cũ của mình, bà khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận đã cấp cho ông T. và buộc trả lại đất.
Ở chiều ngược lại, ông T. cho rằng phần đất tranh chấp có nguồn gốc từ việc cha vợ ông nhận chuyển nhượng của người khác từ năm 1991 bằng giấy viết tay để làm nhà máy xay lúa. Sau đó, cụ Đ. chuyển lại cho ông sử dụng.
Ông T. cho biết đến năm 1997, ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng ổn định từ đó đến nay. Ông cũng xác nhận có mua thêm phần đất rộng khoảng 1m ngang như lời bà H. trình bày.
Từ thắng kiện đến suýt mất trắng
Tại phiên sơ thẩm năm 2022, TAND tỉnh Long An (nay là TAND tỉnh Tây Ninh) nhận định có cơ sở xác định phần đất tranh chấp vốn thuộc thửa đất đã được cấp cho bà H. từ năm 1991.
Tuy nhiên, do gia đình ông T. đã xây dựng nhà cửa kiên cố và sinh sống ổn định suốt nhiều năm nên tòa không buộc giao trả đất.
Thay vào đó, tòa sơ thẩm tuyên buộc vợ chồng ông T. thanh toán cho bà H. hơn 1,6 tỷ đồng là giá trị quyền sử dụng đất, đồng thời cho phép tiếp tục quản lý và sử dụng toàn bộ thửa đất cùng tài sản trên đất.
Sau khi kháng cáo và có kháng nghị của Viện KSND tỉnh, TAND Cấp cao tại TPHCM xử phúc thẩm theo hướng ngược lại, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Không đồng ý với phán quyết này, bà H. tiếp tục đề nghị xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm.
Trong quyết định kháng nghị giám đốc thẩm ban hành tháng 9/2024, Chánh án TAND Tối cao cho rằng bản án phúc thẩm còn nhiều điểm cần xem xét lại.
Hội đồng Thẩm phán nhận định “giấy sang đất” năm 1991 do ông T. xuất trình không thể hiện rõ vị trí, diện tích hay tứ cận phần đất chuyển nhượng. Ngoài giấy tờ này, ông T. không cung cấp thêm được chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất tranh chấp.
Trong khi đó, các tài liệu địa chính cùng lời khai của nhiều nhân chứng lại phù hợp với trình bày của bà H. về nguồn gốc thửa đất.
Từ đó, Hội đồng Thẩm phán quyết định hủy toàn bộ bản án phúc thẩm của TAND Cấp cao tại TPHCM và giao hồ sơ để xét xử lại.
(Tham khảo Quyết định số 01/2025/DS-GĐT ngày 2/1/2025 của TAND Tối cao)