
Theo trình bày của ông S. (ngụ tỉnh Vĩnh Long), năm 2002, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng thửa đất trồng lúa 2.700m2 tại tỉnh Trà Vinh (cũ) của vợ chồng bà B. (ngụ tỉnh Vĩnh Long) với giá 53 triệu đồng.
Việc chuyển nhượng được hai bên lập thành văn bản theo mẫu quy định, có người làm chứng và được UBND xã xác nhận. Đến năm 2003, vợ chồng ông S. được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ).
Sau đó, vợ chồng ông S. sử dụng ổn định thửa đất để chăn nuôi, trồng trọt và đầu tư nhiều hạng mục như hàng rào, chuồng trại, ao nuôi cá.
Theo ông S., do thấy hoàn cảnh gia đình bà B. khó khăn nên ông cho phép vợ chồng bà cất tạm một căn chòi nhỏ để ở trên phần đất mà ông đã nhận chuyển nhượng.
Tuy nhiên, ông S. cho rằng lợi dụng sự tin tưởng và do ông ít lui tới quản lý đất, vợ chồng bà B. đã lấn chiếm đất, xây dựng nhà kiên cố. Khi ông S. quay lại sử dụng đất thì bị vợ chồng bà B. ngăn cản, từ đó phát sinh tranh chấp.
Ông S. khởi kiện, yêu cầu vợ chồng bà B. trả lại phần đất lấn chiếm, nơi đã xây dựng nhà ở kiên cố trên thửa đất của mình.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà B. cho rằng vào năm 2002, vợ chồng bà chỉ chuyển nhượng cho vợ chồng ông S. diện tích đất 2.000m2, phần còn lại khoảng 700m2 vẫn thuộc quyền sử dụng của gia đình bà.
Theo bà B., do bà không biết chữ nên chỉ điểm chỉ vào giấy viết tay và giao sổ đỏ cho ông S. làm thủ tục sang tên phần đất đã bán. Sau nhiều năm, khi làm thủ tục nghiệm thu nhà tình nghĩa do địa phương hỗ trợ, bà mới phát hiện ông S. đứng tên toàn bộ thửa đất.
Từ đó, bà B. phản tố, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng, hủy sổ đỏ đã cấp cho ông S. và công nhận quyền sử dụng đối với phần đất gia đình bà đang ở.

Tại bản án sơ thẩm ngày 29/02/2024, TAND huyện Châu Thành (tỉnh Trà Vinh cũ) xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên được lập đúng hình thức, có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền và phù hợp với quy định pháp luật.
Các lời khai của người làm chứng cũng cho thấy vợ chồng bà B. biết rõ và đồng ý việc chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông S. từ năm 2002. Phía bà B. không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc chỉ chuyển nhượng một phần diện tích đất.
Tuy nhiên, xét hoàn cảnh thực tế của bà B. là hộ gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, nhà ở hiện tại là nơi cư trú duy nhất và được xây dựng từ nguồn hỗ trợ của địa phương, tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết theo hướng dung hòa quyền lợi các bên.
Cụ thể, tòa án giao cho vợ chồng bà B. tiếp tục sử dụng diện tích 58,4m2 trên thửa đất, nơi có căn nhà tình nghĩa và chuồng trại. Đồng thời, buộc vợ chồng bà B. thanh toán cho ông S. số tiền 58,4 triệu đồng tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất. Các yêu cầu phản tố khác của bà B. không được chấp nhận.
Sau bản án sơ thẩm, cả hai bên đều kháng cáo. Ông S. yêu cầu buộc vợ chồng bà B. di dời toàn bộ nhà cửa, tài sản và trả lại toàn bộ diện tích đất tranh chấp ban đầu. Trong khi đó, vợ chồng bà B. tiếp tục yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho mình và hủy một phần sổ đỏ của ông S.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Trà Vinh (nay là TAND tỉnh Vĩnh Long) nhận định việc xác định ông S. là người sử dụng hợp pháp toàn bộ thửa đất là có căn cứ pháp lý vững chắc.
Tuy nhiên, căn cứ công văn xác minh của chính quyền địa phương cho thấy gia đình bà B. thuộc diện rất khó khăn về nhà ở, việc buộc di dời toàn bộ nhà cửa là không phù hợp với thực tế và chính sách an sinh xã hội tại địa phương. Do đó, tòa án cấp phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của cả hai bên, giữ nguyên bản án sơ thẩm.


