Theo trình bày của ông P. (58 tuổi; ngụ tỉnh Sóc Trăng, nay là TP. Cần Thơ), ông là con trai cả trong gia đình có 5 anh chị em. Cha mẹ ông lần lượt qua đời vào năm 1978 và 1979.

Quá trình chung sống, cha mẹ ông P. khai phá được một thửa đất tại địa phương có diện tích 1.500m2 và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ).

Sau khi cha mẹ mất, ông P. là người quản lý đất và căn nhà gần 400m2 trên thửa đất này. Các phần đất còn lại được các em của ông P. chia ra và xây dựng nhà ở. Sau đó, người em út là ông H. đã mất, căn nhà của ông hiện do vợ là bà Nguyễn Thị M. quản lý.

Đến năm 2003, khi ông P. và ba em gái làm thủ tục xin cấp sổ đỏ cho diện tích do cha mẹ để lại mới vỡ lẽ rằng ông H. đã làm thủ tục trước và được chính quyền địa phương cấp sổ đỏ cho thửa đất 1.500m2 vào năm 1993.

Theo ông P., khi phát hiện sự việc, ông yêu cầu người em út phải tách thửa đối với phần đất đã có nhà của các anh chị. Ông H. đồng ý và hứa sẽ thực hiện sau khi trả xong nợ ngân hàng và lấy sổ đỏ về.

Dù ông P. đồng ý hỗ trợ một phần tiền để trả nợ ngân hàng, ông H. lại muốn các anh, chị trong gia đình phải trả toàn bộ số nợ. Mâu thuẫn giữa gia đình người em út và các anh chị phát sinh từ đó.

w so do vietnamnet 40332.jpg
Ảnh minh hoạ

Năm 2024, ông P. nộp đơn khởi kiện, yêu cầu tòa tuyên hủy một phần sổ đỏ đã cấp cho ông H. đứng tên, đồng thời phân chia tài sản chung là quyền sử dụng đất 1.500m2 do cha mẹ để lại cho 5 người con.

Về phía bà M. (vợ ông H.), bà cho biết số nợ ngân hàng đã được giải quyết và bà cũng đã xóa đăng ký thế chấp. Sổ đỏ phần đất 1.500m2 hiện bà đang giữ. Bà đồng ý làm thủ tục tách thửa cho các anh chị của chồng nhưng ông P. không chấp nhận.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bà M. cho rằng thửa đất đã được cha mẹ chồng phân chia từ trước khi còn sống, các hộ gia đình đang sử dụng ổn định. Các đương sự thống nhất việc chia đất theo hiện trạng sử dụng nhưng không đồng ý hoàn trả giá trị chênh lệch và không chịu chi phí tố tụng.

Về việc cấp sổ đỏ cho ông H. vào năm 1993, chính quyền địa phương xác nhận việc cấp là đúng đối tượng, dựa trên đơn xin đăng ký cấp sổ đỏ của ông H. vào tháng 12/1992. Đơn này đã được Hội đồng Đăng ký Đất đai xã xác nhận và việc cấp sổ đỏ được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định tại thời điểm đó.

Tại công văn gửi tòa, chính quyền địa phương cho biết việc cấp sổ đỏ cho ông H. được thực hiện trong đợt cấp đại trà. Việc này dựa trên bản đồ giải thửa được lập từ đo vẽ sơ bộ, không tiến hành đo đạc thực tế cũng như xác minh ranh giới, mốc giới thửa đất.

Tại bản án dân sự sơ thẩm ngày 25/9/2024, TAND tỉnh Sóc Trăng (cũ) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P., xác định thửa đất là tài sản chung và tiến hành chia thành 5 phần tương ứng với các đồng thừa kế.

Tòa án giao đất cho từng người theo hiện trạng đang quản lý, sử dụng, kèm theo tài sản gắn liền với đất. Đồng thời, tòa tuyên hủy một phần sổ đỏ đã cấp cho ông H. vào năm 1993.

Về án phí và chi phí tố tụng, bản án sơ thẩm buộc các đương sự cùng chịu chi phí xem xét, thẩm định và định giá tài sản. Trong đó, ông P. phải chịu hơn 18 triệu đồng án phí.

Sau đó, Viện trưởng Viện KSND tỉnh Sóc Trăng (cũ) đã ban hành kháng nghị, cho rằng việc tính án phí và chi phí tố tụng của bản án sơ thẩm chưa đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện KSND cấp cao tại TPHCM đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí và chi phí tố tụng.

Bị đơn Nguyễn Thị M. không đồng ý với nội dung kháng nghị, lý do bởi gia đình bà đã chấp nhận chia đất nên không phải chịu thêm chi phí.

Về án phí và chi phí tố tụng, hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định bản án sơ thẩm xác định chưa đúng quy định, không bảo đảm nguyên tắc phân chia theo tỷ lệ giá trị tài sản mà các đương sự được hưởng.

Đặc biệt, quyết định sửa chữa, bổ sung án sơ thẩm về án phí ban hành ngày 10/10/2024 không phù hợp với nội dung biên bản nghị án, nên bị xác định là không hợp lệ và cần hủy bỏ.

Trên cơ sở đó, hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện KSND tỉnh Sóc Trăng (cũ), quyết định sửa một phần bản án sơ thẩm, điều chỉnh lại mức án phí dân sự sơ thẩm và phân bổ chi phí tố tụng theo đúng tỷ lệ giá trị tài sản mỗi người được chia.