Người vợ nói 12 năm sau mới biết chồng bán đất
Theo trình bày của bà O. (ngụ TP Cần Thơ), sau khi kết hôn với ông T. vào năm 1993, vợ chồng bà sinh sống trên phần đất do mẹ chồng quản lý. Năm 1998, mẹ chồng đã chuyển nhượng hơn 2.700m2 đất cho vợ chồng bà. Trong thời gian chung sống, hai vợ chồng cùng canh tác và quản lý diện tích đất này.
Bà O. cho rằng vào năm 2003, do việc làm ăn thua lỗ, chồng bà đã tự ý chuyển nhượng nhiều phần đất cho ba người khác mà không được bà đồng ý.
Theo bà, đến năm 2015, khi nhận được giấy triệu tập của tòa án trong một vụ tranh chấp đất đai, bà mới biết các giao dịch chuyển nhượng đã được thực hiện từ nhiều năm trước.

Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như của các thành viên trong hộ gia đình bị ảnh hưởng, bà khởi kiện yêu cầu hủy bốn hợp đồng chuyển nhượng cùng bốn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) đã cấp cho các bên nhận chuyển nhượng.
Trong khi đó, những người nhận chuyển nhượng đất cho rằng việc mua bán đã diễn ra từ năm 2002 đến năm 2003. Các bên đã thanh toán đầy đủ, nhận đất và sử dụng ổn định trong thời gian dài mà không phát sinh tranh chấp. Họ cũng cho biết các sổ đỏ đang được thế chấp tại ngân hàng để bảo đảm các khoản vay.
Ông T. (chồng bà O.) thừa nhận đã trực tiếp chuyển nhượng khoảng 850m2 đất cho một người, sau đó được tách thành 4 thửa. Ông cho biết khi chuyển nhượng đã chừa lối đi nội bộ và nếu phát sinh nhu cầu sử dụng thì các bên có thể thương lượng.
Đại diện ngân hàng nhận thế chấp cũng cho rằng nếu tòa án hủy các sổ đỏ thì các bên vay phải tất toán toàn bộ nghĩa vụ tài chính đối với ngân hàng.
Vì sao không ký hợp đồng nhưng vẫn bị xem là đồng ý bán đất?
Xét xử sơ thẩm, TAND quận Ninh Kiều (nay là TAND khu vực 1 - Cần Thơ) tuyên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà O. về việc hủy bốn hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và 4 sổ đỏ đã cấp.
Đồng thời, tòa đình chỉ yêu cầu khởi kiện trước đó của các bên nhận chuyển nhượng về việc buộc gia đình bà O. trả lại phần đất bị cho là lấn chiếm sau khi họ tự nguyện rút yêu cầu.
Không đồng ý với phán quyết trên, bà O. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, TAND TP Cần Thơ nhận định các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều đã được cơ quan có thẩm quyền chứng thực hợp pháp. Theo Bộ luật Tố tụng dân sự, các hợp đồng đã được cơ quan có thẩm quyền chứng thực là tình tiết không phải chứng minh, đồng thời là căn cứ quan trọng để tòa án xem xét tính hợp pháp của giao dịch.
Đáng chú ý, Tòa phúc thẩm đã viện dẫn Án lệ số 04/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao để đánh giá vụ việc.
Theo đó, dù bà O. cho rằng không ký vào các hợp đồng chuyển nhượng, nhưng thực tế sau khi giao dịch hoàn tất, bên nhận chuyển nhượng đã thanh toán đầy đủ, nhận đất, xây dựng công trình và sử dụng công khai trong thời gian dài.
Với việc sinh sống liền kề, bà O. không thể không biết việc xây dựng nhưng cũng không có ý kiến phản đối trong nhiều năm.
Tòa nhận định việc bà O. không phản đối trong thời gian dài dù bên nhận chuyển nhượng đã công khai quản lý, sử dụng và xây dựng trên đất là căn cứ để xác định bà đã biết và mặc nhiên chấp nhận giao dịch. Từ đó, không có cơ sở pháp lý để hủy các hợp đồng cũng như các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp.
Từ những phân tích trên, TAND TP Cần Thơ quyết định bác toàn bộ kháng cáo của bà O., giữ nguyên bản án sơ thẩm.
(Tham khảo Bản án số 74/2021/DS-PT ngày 23/4/2021 của TAND TP Cần Thơ)