Ở đâu có bà Bình, người ta không còn nhìn thấy ai khác…, khi nghe bà Bình nói, người ta không còn muốn nghe ai khác…, bà bí ẩn… và tinh tế.
XEM CLIP:
Trong căn phòng ngập nắng, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đón chúng tôi vào đúng ngày sinh nhật tuổi 99 (26/5). Thời gian dường như chỉ làm mái tóc bạc hơn, còn sự minh triết, sự mềm mại và khí chất ngoại giao vẫn nguyên vẹn nơi người phụ nữ từng khiến nhiều chính khách quốc tế nể trọng.
Người ta từng gọi bà là “người phụ nữ khiêu vũ giữa bầy sói”. Nhưng sau tất cả những biến động của đất nước, điều còn lại nơi bà không phải là sự sắc lạnh của một nhà đàm phán, mà là vẻ điềm tĩnh của một người đã đi trọn hành trình của chính nghĩa, thắp sáng niềm tin thiêng liêng về một Việt Nam vinh quang, kiêu hãnh.

Khi nhìn lại gần 100 năm cuộc đời, bà không nói nhiều về danh vị. Điều bà nhớ nhất lại là những năm tháng đất nước ở trong khói lửa.
“18 tuổi tôi bắt đầu tham gia cách mạng. Hơn 80 năm hoạt động, tôi chứng kiến nhiều sự kiện lớn của đất nước. Nhưng điều để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp nhất là thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là cuộc đàm phán ở Paris…”, bà nói chậm rãi, hồi tưởng lại cuộc đời mình với VietNamNet.
“Muốn ngoại giao tốt, trước hết phải giữ vững lập trường”
Điều đầu tiên, thay mặt độc giả của VietNamNet xin gửi lời chúc mừng sinh nhật tuổi 99 tới nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình. Thưa bà, khi nghĩ tới “Madame Bình”, người ta thường nghĩ ngay tới một người phụ nữ gần một thế kỷ gắn với những bước ngoặt lớn nhất của đất nước. Đến thời điểm này, điều gì khiến bà suy nghĩ nhiều nhất? Những gì đã đạt được hay những gì còn dang dở?
Năm nay tôi tròn 99 tuổi và bước sang tuổi 100.
18 tuổi, tôi bắt đầu tham gia cách mạng. Hơn 80 năm hoạt động, tôi đã chứng kiến và tham dự nhiều sự kiện quan trọng của đất nước.
Nhưng điều để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp nhất là thời kỳ chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là cuộc đàm phán ở Paris.
Giai đoạn đầu, đất nước ở trong hoàn cảnh rất khó khăn, một phần vì hậu quả của chiến tranh, phần vì chính sách chưa phù hợp. Đến năm 1986, chúng ta tiến hành đổi mới. Trong 40 năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Nhưng công cuộc đổi mới vẫn chưa toàn diện, chưa đầy đủ, cho nên cần tiếp tục có những chủ trương phù hợp với tình hình mới của đất nước.


Thưa bà, với phong thái điềm tĩnh, tự tin, bà đã chinh phục được cộng đồng quốc tế dù không qua đào tạo ngoại giao bài bản hay có những điều kiện vật chất như nhiều nhà ngoại giao khác. Theo bà, điều gì đã tạo nên sức thuyết phục và uy tín của mình trong mắt bạn bè quốc tế?
Tôi có những “người thầy” đặc biệt. Các đồng chí lãnh đạo dạy chúng tôi rằng trong hoạt động ngoại giao, điều đầu tiên là phải giữ vững lập trường. Nhưng thái độ phải hết sức mềm mỏng.
Thuận lợi lớn nhất của tôi khi tham gia đàm phán ở Paris là được đại diện cho một cuộc đấu tranh chính nghĩa và anh hùng của Việt Nam. Một dân tộc nhỏ bé mà dám đương đầu với một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới để bảo vệ độc lập, tự do.

Từ trải nghiệm trên bàn đàm phán quốc tế, bà nhìn nhận sức mạnh mềm của Việt Nam nằm ở đâu? Điều gì khiến một đất nước còn non trẻ khi đó có thể thuyết phục được bạn bè quốc tế?
Chúng tôi hiểu rằng đấu tranh trong nước sẽ quyết định vị thế trên bàn đàm phán. Sức mạnh của cuộc đấu tranh chính là sức mạnh đoàn kết dân tộc. Nhân dân chúng ta đã hết sức đoàn kết trong cuộc chiến đấu giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.


Sau ngày thống nhất đất nước, bà từng có 11 năm làm Bộ trưởng Giáo dục, 5 năm làm Phó trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng, kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, 10 năm giữ cương vị Phó Chủ tịch nước. Theo bà, nhiệm vụ nào khó khăn nhất với bà?
Tôi được Đảng giao nhiều trọng trách. Theo tôi, nhiệm vụ nào cũng khó khăn. Tôi nói vậy là vì các nhiệm vụ đều cao hơn khả năng của mình. Nhưng với lòng quyết tâm làm tròn trách nhiệm, để đóng góp cho đất nước thì chúng tôi từng bước khắc phục những hạn chế của mình và càng ngày càng làm tốt công việc được giao.
Chia sẻ trong cuốn “Phạm Xuân Ẩn – Tên người như cuộc đời”, Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn từng kể về tuổi thơ của mình. Ông Ẩn nói, hồi bé ông rất ham chơi và hay bị so sánh với “bạn Châu Sa” “học hành giỏi giang chăm chỉ, ăn mặc đàng hoàng”. Bà có nhớ các kỷ niệm thuở thiếu thời không?
Thời gian gần một thế kỷ đã trôi qua, nhiều chuyện giờ như bóng mây qua cửa sổ. Thú thực, hiện giờ, tôi không nhớ mối quan hệ với gia đình ông Phạm Xuân Ẩn.
Nhưng thực tế là khi còn nhỏ, tôi là một học sinh chăm chỉ. Ngoài việc học tập, tôi dành thì giờ chăm sóc các em nhỏ vì mẹ tôi bị mất sớm.
Tình cảm đặc biệt của Thụy Điển với Việt Nam
Không chỉ có những người bạn trong nước, bà còn có những mối quan hệ đặc biệt với bạn bè quốc tế. Bà có thể chia sẻ một câu chuyện về tình bạn đặc biệt ấy?
Tôi may mắn có nhiều bạn quốc tế, nhiều người bạn lớn. Nên bây giờ bảo kể riêng một câu chuyện nào cũng khó.
Nhưng nếu phải nhắc về một đất nước để lại cho tôi nhiều kỷ niệm đẹp nhất, thì đó là Thụy Điển.
Nói thật, trong những năm tháng chúng ta chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là thời kỳ Hội nghị Paris, tôi cảm nhận rất rõ tình cảm của người dân Thụy Điển dành cho Việt Nam. Đó không phải chỉ là sự ủng hộ về ngoại giao, mà là một sự đồng cảm rất sâu sắc.
Từ Chính phủ tới người dân, hầu như ai cũng dành tình cảm cho Việt Nam.
Phong trào đấu tranh của Việt Nam nhận được sự ủng hộ của Chính phủ, của người đứng đầu nhà nước, đặc biệt là Thủ tướng Olof Palme.
Khi ấy, Chính phủ Thụy Điển có một chủ trương rất đặc biệt: giúp đỡ những thanh niên Mỹ trốn lính vì không muốn sang Việt Nam tham chiến. Họ được tạo điều kiện để sinh sống tại Thụy Điển. Với tôi, đó là một điều rất có ý nghĩa, vì nó góp phần khuyến khích phong trào phản chiến ở Mỹ.

Thời ấy, thanh niên Thụy Điển hâm mộ cuộc đấu tranh của Việt Nam. Ở Thuỵ Điển, người ta bảo có một thế hệ gọi là "thế hệ Việt Nam". Một lớp thanh niên đông đảo ở nước này cũng như nhiều nước khác đã "giác ngộ" chính trị từ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam. Việt Nam đã cho họ một lẽ sống, một động lực mới mẻ.
Điều đó, theo tôi nghĩ đó là sức mạnh của lẽ phải, của chân lý. Một sức mạnh có thể thu phục được lòng người. Đó là tình cảm, hành động tự giác của nhân dân một nước thật sự văn minh, có truyền thống nhân ái sâu sắc. Đến giờ nhớ lại tôi vẫn thấy xúc động.
Tôi có một người bạn thân là một nhà văn lớn, chị Sara Lidman. Sara Lidman đã nói “cuộc đấu tranh của Việt Nam là lương tri của loài người”. Tôi nghĩ… có lẽ không còn lời nào đẹp hơn thế để nói về Việt Nam trong thời điểm ấy.
Và ở tuổi 99, điều gì mang lại cho bà sự thanh thản, niềm vui và niềm tin khi nhìn về tương lai của đất nước?
Điều mà tới tuổi này tôi thấy vui và thanh thản… là trong suốt quá trình hoạt động, tôi được giao nhiều trọng trách và đã cố gắng làm tròn tất cả những nhiệm vụ mà Đảng giao phó cho mình.
Cho nên tôi cảm thấy mình cũng đã có những đóng góp xứng đáng cho công việc của đất nước.
Và điều bây giờ tôi cảm thấy vui là, dù chúng ta còn phải nỗ lực để đạt được mục tiêu về một đất nước phát triển, hùng mạnh và thịnh vượng, điều bây giờ tôi cảm thấy vui là các đồng chí lãnh đạo hết sức quyết tâm. Chúng ta đã có những chủ trương rất quan trọng để đổi mới, để đạt được những điều nhân dân mong muốn. Tôi tin đất nước sẽ hùng mạnh hơn và nhân dân sẽ hạnh phúc hơn.
Nhân dịp sinh nhật lần thứ 99, thay mặt tổng thống Palestine, nhân dân Palestine và cá nhân tôi, tôi xin gửi tới bà những lời chúc mừng tốt đẹp nhất và mong bà sẽ tiếp tục sứ mệnh của mình trong hạnh phúc bên gia đình và có một tuổi thọ an lành. Xin chúc mừng sinh nhật bà!


