
Cần cơ chế đặc thù
Phát biểu thảo luận tại phiên họp diễn ra nvafy 16/7, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Vạn Xuân Cầm Thị Phượng cho rằng sau khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, khối lượng công việc ở cấp xã tăng lên đáng kể. Trong khi đó, nhiều xã miền núi vẫn thiếu cán bộ, thiếu biên chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu.
Theo bà Phượng, địa bàn miền núi rộng, dân cư sinh sống phân tán, giao thông đi lại khó khăn khiến cán bộ cơ sở phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu cũng như giải quyết công việc cho người dân.

Từ thực tế này, đại biểu đề nghị tỉnh nghiên cứu bổ sung các phòng chuyên môn phù hợp; tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, bổ sung biên chế và có cơ chế hợp đồng đối với một số vị trí chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Không chỉ đối mặt với bài toán nhân lực, khu vực miền núi còn đứng trước nguy cơ tụt hậu nếu nguồn lực đầu tư tiếp tục tập trung chủ yếu vào các dự án quy mô lớn ở vùng thuận lợi.
Bà Phượng cho rằng nhiều công trình hạ tầng thiết yếu tại miền núi vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Vì vậy, tỉnh cần tiếp tục ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư cho hệ thống giao thông, hạ tầng số, trường học, cơ sở y tế và các công trình phục vụ dân sinh.
Đặc biệt, bà kiến nghị bổ sung tuyến Tỉnh lộ 519 - 519B nối từ xã Vạn Xuân đến các xã Thắng Lộc và Tân Thành vào danh mục đầu tư nhằm tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội cho khu vực.
Cùng với đầu tư hạ tầng, bà Phượng cũng đề nghị tiếp tục thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát; đồng thời quan tâm chăm lo đời sống người có công, hộ nghèo và hộ cận nghèo, bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau.
"Đối với chuyển đổi số, cần có lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế của miền núi. Muốn chuyển đổi số thành công phải bắt đầu từ việc đầu tư hạ tầng viễn thông ổn định, phủ sóng internet đến các bản làng, đồng thời nâng cao kỹ năng số cho đội ngũ cán bộ và người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số", bà Phượng nhấn mạnh.

Ngoài ra, bà Phượng cũng đề nghị tỉnh hỗ trợ kinh phí xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước cũng như giải quyết thủ tục hành chính tại cơ sở.
Tiếp thêm động lực cho giáo dục vùng cao
Một nội dung khác cũng nhận được sự quan tâm tại nghị trường là phát triển giáo dục vùng cao.
Đại biểu Lâu Thị Dính, giáo viên mầm non xã Nhi Sơn cho biết: những năm qua, giáo dục tại khu vực Mường Lát cũ đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều điểm trường được đầu tư khang trang; hệ thống trường bán trú, nội trú giúp học sinh vùng sâu, vùng xa có điều kiện duy trì việc học.
Theo bà Dính, nhận thức của đồng bào về vai trò của giáo dục cũng thay đổi rõ rệt. Nếu trước đây, nhiều gia đình chỉ mong con học hết tiểu học thì nay ngày càng nhiều phụ huynh động viên con em học hết THPT, học nghề hoặc tiếp tục học đại học để có cơ hội lập nghiệp.
Nhiều học sinh người Mông, Thái, Khơ Mú đã đạt kết quả cao trong các kỳ thi tuyển sinh vào trường nội trú của tỉnh, thậm chí mạnh dạn đăng ký dự thi vào Trường THPT Chuyên Lam Sơn. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy giáo dục đang từng bước mở ra cơ hội đổi thay cuộc sống của đồng bào vùng cao.

Tuy nhiên, theo bà Dính, giáo dục miền núi vẫn còn nhiều khó khăn. Nhiều trường học thiếu giáo viên ở một số môn học; cơ sở vật chất chưa đồng bộ, thiếu phòng học bộ môn, nhà công vụ cho giáo viên và khu bán trú cho học sinh. Không ít học sinh ở vùng sâu vẫn phải vượt quãng đường dài đến trường, đặc biệt vất vả vào mùa mưa lũ.
Từ thực tiễn công tác, đại biểu Lâu Thị Dính đề nghị tỉnh sớm triển khai xây dựng các trường nội trú liên cấp tại các xã biên giới theo Đề án phát triển giáo dục giai đoạn 2026-2030. Đồng thời, nghiên cứu cơ chế đặc thù để điều động, bổ sung giáo viên còn thiếu và có chính sách đủ sức thu hút, giữ chân giáo viên gắn bó lâu dài với vùng cao.
Bên cạnh đó, bà Dính cũng đề nghị tiếp tục huy động nguồn lực xã hội hỗ trợ bữa ăn, chỗ ở và điều kiện học tập cho học sinh vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; quan tâm dạy tiếng Việt cho trẻ trước khi vào lớp 1 gắn với bảo tồn tiếng nói và bản sắc văn hóa của các dân tộc.
