Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo không chỉ là căn cứ để Nhà nước xây dựng, điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh, mà còn phản ánh thực chất hiệu quả của các chương trình giảm nghèo đang được triển khai.

Vì thế, dự thảo Thông tư hướng dẫn quy trình, phương pháp rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2027-2030 (gọi tắt là dự thảo Thông tư) của Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) nhận được sự quan tâm đặc biệt của các Bộ, ngành, địa phương.

Theo tổng hợp của Bộ NN&MT, ngoài ý kiến của 4 đơn vị trực thuộc Bộ, hiện có 17 Bộ và cơ quan ngang Bộ và 26 Sở NN&MT đã góp ý vào dự thảo. Việc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, để khi ban hành, các tiêu chí xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo phản ánh đúng thực trạng đời sống của nhân dân, không bỏ sót hộ nghèo, hộ cận nghèo, không chạy theo thành tích làm sai lệch thực trạng nghèo.

Rà soát hộ nghèo 1.jpg
Kết quả rà soát hộ nghèo là cơ sở để nhận diện đúng thực trạng nghèo, từ đó bảo đảm nguồn lực phân bổ chính xác, không bỏ ai lại phía sau trên hành trình giảm nghèo. Ảnh: TP

“Điểm số” có đo hết thực trạng nghèo?
Từ năm 2027, chuẩn nghèo đa chiều quốc gia được xác định trên thu nhập và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản: Việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin. Bộ tiêu chí được quy định tại Nghị định số 351/2025/NĐ-CP ngày 30/12/2025.

Để xác định sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản, dự thảo Thông tư của Bộ NN&MT đã xây dựng bộ chỉ số trong phiếu rà soát. Tuy nhiên, Bộ Xây dựng đề nghị bổ sung, làm rõ nội hàm khái niệm “chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản” dựa trên các trụ cột nghèo đa chiều mới.

Chấm điểm tài sản: Khi “3 con trâu” chưa bằng “100 con gà”

Góp ý vào dự thảo Thông tư, Sở NN&MT Quảng Ninh đề nghị điều chỉnh mức điểm đối với xe máy, điều hòa phù hợp với mức điểm của các tài sản khác vì việc chấm điểm hiện nay chưa phản ánh đầy đủ, chính xác thực tế hoàn cảnh kinh tế của hộ. Có trường hợp tài sản cũ hoặc do người khác cho nhưng không sử dụng vẫn bị tính điểm như tài sản mới, đang sử dụng.

Đặc biệt, Sở NN&MT Cao Bằng đề nghị điều chỉnh lại điểm hộ có từ 3 con trâu, bò, ngựa trở lên là 28 điểm; hộ có 10 con lợn, dê, cừu là 20 điểm; hộ có từ 100 con gà, vịt, ngan, ngỗng, chim là 10 điểm. Lý do là giá trị kinh tế của 03 con trâu, bò, ngựa cao hơn đáng kể so với 10 con lợn, dê, cừu và 100 con gia cầm.

Theo Bộ Xây dựng, việc quy định chỉ nêu tên gọi như dự thảo mà chưa làm rõ mối liên hệ với các dịch vụ xã hội cơ bản cụ thể sẽ dẫn đến khó khăn, thiếu thống nhất cho cán bộ cơ sở và người dân trong quá trình sử dụng phiếu rà soát.

Còn Sở NN&MT TPHCM đề nghị dự thảo Thông tư cần quy định rõ cách xác định chỉ số thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản theo điểm hoặc theo chỉ số thiếu hụt để bảo đảm thống nhất trong phân loại hộ nghèo, hộ cận nghèo.

Theo Sở này, hiện khoản 11, Điều 2 và khoản 2 Điều 3 trong dự thảo Thông tư dùng “chỉ số thiếu hụt”, trong khi Phiếu B2 lại thể hiện điểm đối với từng chỉ số thiếu hụt.

Trước đó, tại hội thảo lấy ý kiến trực tiếp do Văn phòng quốc gia giảm nghèo (Bộ NN&MT) tổ chức ngày 17/4/2026, ông Hồ Xuân Khanh - Phó Chi cục trưởng Phát triển nông thôn Đà Nẵng đề xuất, dự thảo nên có cách tiếp cận, đo lường sát hơn với thực tế. Theo ông, cần nhìn nhận nghèo đa chiều một cách linh hoạt hơn, tránh máy móc theo điểm số.

“Việc xác định hộ nghèo không chỉ dựa trên con số mà phải gắn với điều kiện sống thực tế, khả năng tiếp cận dịch vụ và mức độ ổn định sinh kế”, ông Khanh khuyến nghị.

Ông Khanh dẫn chứng thực tế có trường hợp hộ đạt điểm thu nhập nhưng thiếu một số chỉ số dịch vụ cơ bản thì xếp nghèo, còn hộ khác thu nhập thấp hơn nhưng không thiếu hụt các chỉ số dịch vụ lại không thuộc diện nghèo. Theo ông, cách tính điểm này dễ dẫn đến sai lệch trong nhận diện đối tượng, ảnh hưởng đến hiệu quả chính sách.

Không để khoảng trống khái niệm làm sai lệch chính sách hỗ trợ
Góp ý vào dự thảo Thông tư, Bộ Y tế đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ việc quy định đối với “hộ thoát nghèo”. Bởi trong Nghị định số 351/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2026-2030 không quy định đối với “hộ thoát nghèo”.

Theo lý giải của Văn phòng quốc gia giảm nghèo, khái niệm “hộ thoát nghèo” trong dự thảo Thông tư được quy định là kết quả của quá trình rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo. “Hộ thoát nghèo” không phải là một nhóm đối tượng độc lập ngoài phạm vi Nghị định số 351/2025/NĐ-CP.

Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai chính sách giảm nghèo ở cơ sở, khái niệm “hộ thoát nghèo” vẫn là vấn đề làm các địa phương đau đầu.

Tại hội thảo ngày 17/4, Phó Chi cục trưởng Phát triển nông thôn Cao Bằng – bà Nguyễn Thị Khánh Bằng cho rằng, định nghĩa hiện tại dễ gây nhầm giữa hộ vừa thoát khỏi diện nghèo, cận nghèo với trường hợp đã thoát hẳn và không còn nguy cơ tái nghèo.

“Việc chưa tách bạch các nhóm này khiến địa phương khó xác định đúng đối tượng để áp dụng chính sách. Trong khi thực tế còn có nhóm “hộ mới thoát nghèo” cần được nhận diện riêng để theo dõi và hỗ trợ phù hợp”, bà Bằng nói.

Hoàn thiện dữ liệu nghèo để không bỏ sót đối tượng yếu thế

- Để thuận lợi cho việc theo dõi, đánh giá các mục tiêu, chỉ tiêu thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030, đề nghị Bộ NN&MT bổ sung thêm kết quả rà soát “Hộ nghèo, hộ cận nghèo vùng đồng bào DTTS và miền núi theo quy định hiện hành”. (Bộ Dân tộc và Tôn giáo)

- Đề nghị nghiên cứu, bổ sung đối tượng áp dụng là các hộ gia đình nghèo phát sinh do di biến động dân cư, người lao động tự do chưa hoàn tất thủ tục hành chính về cư trú nhưng thực tế đang sinh sống và có nhu cầu được hỗ trợ an sinh xã hội tại địa phương; việc bổ sung này nhằm bảo đảm tính bao phủ, không bỏ sót đối tượng yếu thế”. (Bộ Xây dựng)

- Bổ sung cơ chế báo cáo đột xuất trong trường hợp có biến động lớn về hộ nghèo, hộ cận nghèo (thiên tai, dịch bệnh, biến động kinh tế...) nhằm kịp thời phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành”. (Bộ Công thương)

- Đề nghị xem xét, bổ sung biểu tổng hợp về nguyên nhân nghèo của hộ nghèo, hộ cận nghèo dân tộc thiểu số để tạo sự thống nhất chung trong thực hiện thu thập thông tin giữa các ngành, lĩnh vực”. (Sở NN&MT tỉnh Vĩnh Long)

Góp ý vào dự thảo Thông tư, Văn phòng điều phối nông thôn mới Trung ương đề nghị làm rõ “hộ thoát nghèo” có bao gồm hộ cận nghèo thuộc danh sách địa phương quản lý nhưng qua rà soát không thuộc hộ cận nghèo hay không. Theo đơn vị này, bản chất “hộ thoát nghèo” và “hộ thoát cận nghèo” là 02 đối tượng khác nhau.

Những “khoảng trống” khái niệm nêu trên cần thiết được lấp đầy. Bởi nếu không được làm rõ sẽ khiến chính sách hỗ trợ thiếu chính xác, người thực sự cần hỗ trợ có nguy cơ bị bỏ sót, trong khi nguồn lực an sinh bị phân tán, giảm hiệu quả.

Rà soát hộ nghèo “mất khả năng lao động”: Một khái niệm, nhiều cách hiểu
Một vấn đề được các Bộ, ngành, địa phương quan tâm là xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo do nguyên nhân “mất khả năng lao động”. Đây là chỉ số được các địa phương sử dụng để đo lường thực trạng nghèo từ nhiều năm nay, nhưng chưa có cách hiểu thống nhất.

Góp ý vào dự thảo Thông tư, Sở NN&MT Thái nguyên đề nghị bổ sung làm rõ thế nào được gọi là “mất khả năng lao động” đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo có thành viên trong độ tuổi lao động nhưng mất khả năng lao động.

Đo nghèo sát thực tế hơn với nhóm mất khả năng lao động

Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh: Khánh Hòa, Phú Thọ đề xuất bổ sung thêm cột nội dung “Số lượng/Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo không có khả năng lao động” trong hệ thống biểu mẫu để làm căn cứ thẩm định tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Riêng Sở NN&MT tỉnh Khánh Hòa kiến nghị bổ sung thêm mẫu “Cung cấp danh sách hộ nghèo, cận nghèo không có khả năng lao động” để làm cơ sở tính toán tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo của xã, phường, đặc khu; đồng thời phục vụ công tác xây dựng chính sách, báo cáo riêng cho nhóm đối tượng này

Trả lời vấn đề này, Văn phòng quốc gia giảm nghèo lý giải, khái niệm “mất khả năng lao động” đã được quy định tại các luật chuyên ngành hiện hành. Theo đó, người mất khả năng lao động là người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, bệnh tật dẫn đến suy giảm khả năng lao động buộc người lao động phải ngừng việc tạm thời hoặc vĩnh viễn.

Nhưng đây mới là khái niệm ở góc độ pháp luật lao động và an toàn, vệ sinh lao động, gắn với chế độ bảo hiểm xã hội, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Điều cần làm rõ là xác định hộ nghèo do “mất khả năng lao động” để “khớp” với chính sách giảm nghèo.

Góp ý vào dự thảo Thông tư, Sở NN&MT tỉnh Lào Cai cho rằng, trong quá trình rà soát cần làm rõ trường hợp tất cả thành viên trong độ tuổi lao động đều mất khả năng lao động.

Đơn vị này đề nghị xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo không có khả năng lao động là hộ không có thành viên trong độ tuổi lao động hoặc có nhưng tất cả các thành viên trong độ tuổi lao động đều mất khả năng lao động.

Từ những góp ý của các Bộ ngành, địa phương cho thấy, việc xây dựng một bộ tiêu chí càng nhiều chỉ số, càng đòi hỏi khái niệm phải rõ ràng, cách tính phải thống nhất và phương pháp rà soát phải bám sát thực tế đời sống. Bởi đây sẽ là cơ sở để nhận diện đúng thực trạng nghèo, từ đó bảo đảm nguồn lực phân bổ chính xác, không bỏ ai lại phía sau trên hành trình giảm nghèo.