Chính từ điểm xuất phát ấy, đời ông bắt đầu một cuộc đi dài: Đi từ buôn làng ra đất nước, rồi từ đất nước lại quay về với buôn làng bằng chính sách, bằng tiếng nói nghị trường, bằng những chuyến thực địa không mệt mỏi.

XEM VIDEO:

Người con của đại ngàn

Ông Ksor Phước sinh ra và lớn lên ở Tây Nguyên - đại ngàn đã trao cho ông sự cứng cỏi, thẳng thắn, bền bỉ; cũng chính buôn làng đã nuôi trong ông một tình thương sâu nặng với đồng bào. Trong ký ức của ông, Tây Nguyên có “điểm xuất phát rất thấp”, nơi đồng bào còn thiếu đường, thiếu điện, thiếu nước sạch, thiếu trường học, thiếu trạm y tế, thiếu thông tin. 

Từ những năm tháng ấy, trong ông hình thành một câu hỏi lớn: “Điều dai dẳng nhất trong lòng tôi là câu hỏi: làm thế nào để đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào Tây Nguyên có thể vươn lên, tiến kịp, cùng đi với cả nước?”. Câu hỏi ấy không phải một khẩu hiệu. Nó là nỗi trăn trở của cả đời người. Nó theo ông từ khi là người lính công an nhân dân, đến khi làm lãnh đạo tỉnh, rồi Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Dù ở đâu, ông vẫn mang trong mình một mối nợ: mối nợ với dân, với buôn làng, với những cộng đồng còn ít nhiều thiệt thòi.

Ở ông Ksor Phước, người ta thấy một kiểu cán bộ đặc biệt. Ông không chỉ đọc báo cáo. Ông đi, đi đến tận nơi để nhìn tận mắt và nghe tận tai. Ông từng đến những vùng dân tộc rất ít người, đến những bản làng phải leo núi cao mới vào được, đến những nơi vài nóc nhà nằm rải rác trên một quả đồi… Ông chia sẻ: “Làm công tác dân tộc mà không đi cơ sở thì không thể hiểu dân. Không hiểu con đường dân đi, nguồn nước dân dùng, cái rẫy dân canh tác, cái trường trẻ phải đến, thì chính sách dễ đẹp trên giấy mà xa trong đời”.

tây nguyên 1.jpg
Lớp trẻ Tây Nguyên ngày nay đang tích cực học tham gia các lớp học cồng chiêng, múa xoang góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa. Ảnh: Nguyễn Huế
 

Chính vì vậy, một trong những câu nói xuyên suốt cả quá trình ông gắn bó với công tác dân tộc đó là: “Người làm công tác dân tộc phải nhìn thẳng vào sự thật và nói đúng sự thật”. Câu nói ấy tưởng giản dị, nhưng chứa đựng cả bản lĩnh của một đời làm chính sách. Bởi sự thật ở vùng dân tộc không phải lúc nào cũng dễ nghe. Đó có thể là nghèo đói, bệnh tật, ma túy, hôn nhân cận huyết, mê tín, thiếu đất sản xuất, thiếu nước sinh hoạt, thiếu cán bộ cơ sở đủ năng lực. Nhưng nếu né tránh sự thật, chính sách sẽ không thể chạm tới đúng nơi cần chạm.

Ông từng kể, có nơi ông đã tới ở vùng núi phía Bắc, cán bộ cơ sở nói gần như hộ nào cũng có người nghiện ma túy. Có những vùng, đồng bào sống quá phân tán, một vài hộ trên một quả núi, khiến trường học, y tế, điện, nước, giao thông đều trở thành bài toán nan giải. Có những hủ tục, tập quán lạc hậu không chỉ là vấn đề văn hóa mà là rào cản phát triển của cả một cộng đồng.

Đáng quý ở chỗ, vị Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội lại không nhìn đồng bào bằng ánh mắt thương hại. Ông nhìn bằng tình thương và sự tôn trọng. Ông hiểu rằng Nhà nước phải hỗ trợ, chính sách phải có ngân sách, nhưng người dân không thể chỉ là đối tượng thụ hưởng. Họ phải là chủ thể của sự đổi thay. Bởi thế, ông đặc biệt nhấn mạnh đến hai chữ “nội lực”. Ông nói, chính sách hỗ trợ đồng bào phải nhằm “phát huy nội lực để vươn lên tiến bộ cùng cả nước”. 

Đây chính là tư tưởng xuyên suốt trong cách ông nhìn về công tác dân tộc: giúp dân không phải để dân phụ thuộc, mà để dân đứng dậy bằng chính sức mạnh của mình. Chính tư tưởng ấy theo ông vào nghị trường. Ông chia sẻ, ông coi việc góp được một dòng trong Hiến pháp về chính sách hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào các dân tộc để phát huy nội lực, vươn lên tiến bộ cùng cả nước như một “huân chương”, một phần thưởng lớn. “Một dòng chữ đúng trong Hiến pháp có thể mở ra đường đi cho hàng triệu con người. Một chính sách đúng có thể làm thay đổi số phận của những buôn làng xa nhất”, ông nhấn mạnh.

tay nguyen 3.jpg
Ông Ksor Phước chia sẻ: “Tôi hiểu “thật thà” trong tư tưởng của Bác nghĩa là không chỉ nói hay. Thật thà là làm thật; tôn trọng thật; bình đẳng thật; gần dân và giúp dân thật”. Ảnh: Đức Yên

Cán bộ lắng nghe dân chứ không phải lên lớp cho dân

Với những người từng theo dõi hoạt động nghị trường, ông Ksor Phước là một đại biểu thẳng thắn, có trách nhiệm, dám nói điều cần nói. Nhưng sự thẳng thắn ấy không phải để tạo dấu ấn cá nhân. Nó bắt nguồn từ một nguyên tắc mà ông xem là cốt lõi của người đại biểu Quốc hội: “Yêu nước, thương dân”. Ông nói: “Luật có thể sửa, Hiến pháp có thể điều chỉnh, nhưng yêu nước thương dân thì không sửa được”.

Ông cũng từng căn dặn cán bộ khi đi cơ sở: “Phải ghi chép, phải quan sát, phải lắng nghe dân nói chứ không lên lớp cho họ”. Ông cho rằng, nếu người cán bộ đến với dân bằng tư thế ban phát, dân sẽ xa; nếu đến bằng sự lắng nghe, dân sẽ mở lòng. Với ông, những yếu kém, lạc hậu ở cơ sở không phải là cái cớ để trách dân. Đó là trách nhiệm của hệ thống, của những người làm chính sách, của bộ máy phải tìm cách tháo gỡ.

Ở con người ông Ksor Phước có sự quyết liệt của một người lính, nhưng cũng có sự mềm dẻo và sâu lắng của một già làng. Ông có thể nói thẳng trước hội nghị lớn, thậm chí từng khẳng định nếu mình phản ánh sai sự thật thì cấp trên có thể cách chức. “Bởi tôi đã đi, đã thấy, đã nghe. Nếu tôi im lặng, có thể một chính sách sẽ không được sửa, một bản làng sẽ tiếp tục bị bỏ quên, một nhóm đồng bào yếu thế sẽ còn đứng bên lề phát triển”, ông thẳng thắn bày tỏ.

Nói về công tác dân tộc, ông luôn nhìn trong tầm rộng của đại đoàn kết. Dân tộc, theo ông, không chỉ là câu chuyện của 53 dân tộc thiểu số. Đó là câu chuyện của cả 54 dân tộc anh em, cùng xây dựng một dân tộc Việt Nam thống nhất trong đa dạng văn hóa. Ông nhấn mạnh tinh thần bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau. Và đặc biệt, ông nhắc đến chữ “thật thà” trong tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách dân tộc. Ông chia sẻ: “Tôi hiểu “thật thà” trong tư tưởng của Bác nghĩa là không chỉ nói hay. Thật thà là làm thật; tôn trọng thật; bình đẳng thật; gần dân và giúp dân thật”.

Đời riêng của ông cũng thấm đẫm tinh thần ấy. Ông dạy con không bằng những bài giảng dài, mà bằng cách đưa con về làng. Mỗi năm, ông đều đưa con về quê cha đất tổ, để các con cùng ăn, ngủ, sống với buôn làng và biết mình từ đâu mà sinh ra, lớn lên. Đó là một cách giáo dục âm thầm nhưng sâu sắc. Ông giải thích rằng: “Người cán bộ nếu quên gốc rễ, sẽ dễ quên dân. Người con Tây Nguyên nếu không còn nhớ bếp lửa, tiếng chiêng, con đường đất đỏ, sẽ khó hiểu vì sao cha ông mình cả đời đau đáu với đồng bào”.

tây nguyen.jpg
Lớp trẻ dân tộc thiểu số hôm nay đã có cơ hội học tập, hội nhập, cống hiến rộng mở hơn nhiều. Ảnh: Nguyễn Huế

Nhìn về người trẻ dân tộc thiểu số hôm nay, ông vừa mừng vừa lo. Mừng vì cơ hội học tập, hội nhập, cống hiến đã rộng mở hơn nhiều. Lo vì vùng dân tộc vẫn còn là nơi tập trung những cộng đồng nghèo và yếu thế. Ông không né tránh những nhận xét ấy. Bởi với ông, nói ra khó khăn không phải để bi quan, mà để hành động. Như ông từng nhấn mạnh, nói đúng sự thật là để đối mặt với sự thật, để tìm cách giải quyết sự thật, để đưa chính sách đến gần dân hơn.

Người ta nhớ về ông Ksor Phước vì thế không chỉ thuộc về một giai đoạn công tác, người ta nhớ đến ông bởi ông là một phần ký ức của Tây Nguyên, là tiếng nói vẫn vọng tới hôm nay. Tiếng nói ấy nhắc rằng phát triển không thể bỏ ai phía sau. Đại đoàn kết dân tộc không phải khẩu hiệu treo trên hội trường, mà phải thành con đường, giếng nước, lớp học, trạm y tế; thành cơ hội cho đứa trẻ vùng cao được học hành; thành sự tôn trọng dành cho cán bộ dân tộc; thành chính sách đủ sâu để chạm tới từng buôn làng… Người ta nhớ ông bằng một điều giản dị: ông là người của buôn làng, một người đã đi rất xa, nhưng không rời khỏi nơi mình sinh ra.