Nhà nước khuyến khích toàn dân làm giàu chính đáng đi đôi với trách nhiệm xã hội. Nguồn lực lớn nhất còn có thể đánh thức chính là sức đầu tư, kinh doanh và sáng tạo của khu vực tư nhân và của hơn một trăm triệu người dân.
Một trong những vấn đề được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra tại Hội nghị Trung ương 4 là "xác định đúng ưu tiên, phát huy hiệu quả nguồn lực để phát triển nhanh và bền vững".
PV Báo VietNamNet có cuộc trao đổi với TS Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TPHCM về những nội dung liên quan tới chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước.
TS Trần Quang Thắng - Viện trưởng Viện Kinh tế và Quản lý TPHCM. Ảnh: Phước Sáng
Rút ngắn thời gian biến vốn, đất đai... thành thu nhập thực tế
Theo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, năm 2027 phải tăng tốc, bứt phá, chuyển biến mạnh mẽ, tạo đà thực hiện mục tiêu cả nhiệm kỳ. Theo ông, đâu là giải pháp trọng tâm để tăng trưởng GDP từ 10% trở lên, lạm phát khoảng 4,5%?
Theo tôi, điều quan trọng nhất là tiếp tục hoàn thiện thể chế. Trong năm 2027, chúng ta cần xử lý dứt điểm các chồng chéo về đầu tư, đất đai, quy hoạch, xây dựng, nhà ở, năng lượng và môi trường; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, phân cấp thực chất và quy định rõ trách nhiệm. Mục tiêu là biến hàng nghìn dự án đang chờ thủ tục thành năng lực sản xuất thực tế.
Giải pháp thứ hai là kích hoạt mạnh đầu tư tư nhân và tiêu dùng trong nước. Cần giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm quyền tài sản và khả năng thực thi hợp đồng, tạo điều kiện để doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Chính sách kích cầu tiêu dùng nên tập trung nâng thu nhập, tạo việc làm, phát triển nhà ở xã hội và bảo đảm an sinh, thay vì trợ cấp đại trà.
Bên cạnh đó phải nâng năng lực cung ứng của nền kinh tế. Chúng ta cần bảo đảm đủ điện, nguyên liệu, nhân lực kỹ thuật, mặt bằng sản xuất, logistics và dữ liệu. Nếu tổng cầu tăng nhanh nhưng năng lực cung ứng không tăng tương ứng, tăng trưởng sẽ chuyển thành nhập khẩu và gây áp lực lạm phát.
Đồng thời cần thực hiện chính sách tài khóa mở rộng có trọng điểm. Nguồn lực cần tập trung cho các dự án có thể hoàn thành sớm hoặc tạo hiệu ứng lan tỏa lớn như giao thông liên vùng, cảng biển, logistics, điện và lưới điện, hạ tầng số, nhà ở xã hội. Đầu tư công phải đóng vai trò “mở đường” cho đầu tư tư nhân, không lấn át khu vực tư.
Nguồn lực cần tập trung cho các dự án có thể hoàn thành sớm hoặc tạo hiệu ứng lan tỏa lớn. Ảnh: Nguyễn Huế
Chúng ta cũng cần tập trung vào việc điều hành tiền tệ linh hoạt, không dựa vào tín dụng giá rẻ để đạt tăng trưởng. Tín dụng cần ưu tiên sản xuất, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghệ và chuyển đổi xanh. Song song đó là phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu và các kênh vốn dài hạn để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.
Và cuối cùng là xây dựng cơ chế điều hành tăng trưởng và lạm phát theo thời gian thực. Hằng tháng cần theo dõi các chỉ báo về sản xuất, đơn hàng, điện, vận tải, tín dụng, tỷ giá và giá cả; xây dựng ít nhất 3 kịch bản và xác định rõ ngưỡng để kích hoạt các biện pháp điều chỉnh. Kế hoạch năm 2027 cần gắn từng nhiệm vụ với sản phẩm, thời hạn và người chịu trách nhiệm, theo hướng quản lý dựa trên kết quả.
Theo ông, đâu là những điều kiện tiên quyết để Việt Nam có thể đạt đồng thời 2 mục tiêu nói trên?
Những điều kiện tiên quyết để bảo đảm tăng trưởng là năm nay phải tạo được nền tăng trưởng đủ cao nhưng không để lại những mất cân đối lớn về lạm phát, tỷ giá, nợ xấu và thị trường tài sản. Năng suất lao động phải tăng đột phá thông qua công nghệ, quản trị, đào tạo và dịch chuyển lao động sang các khu vực có giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, năng lực sản xuất về điện, hạ tầng, logistics, nhà ở và nhân lực phải đi trước nhu cầu, qua đó giảm chi phí và tránh tình trạng “cầu tăng nhưng cung không theo kịp”. Đầu tư công phải bảo đảm tiến độ, đồng thời tạo sức lan tỏa và thu hút vốn tư nhân, thay vì chỉ làm tăng lượng tiền đưa vào nền kinh tế.
Sân bay Long Thành nhìn từ trên cao. Ảnh: Nguyễn Huế
Chính sách tài khóa và tiền tệ cần phối hợp chặt chẽ, trong đó tài khóa tập trung mở rộng năng lực cung, còn tiền tệ giữ ổn định giá trị đồng tiền và kiểm soát rủi ro tài sản. Đồng thời cần duy trì dư địa dự phòng trước các cú sốc bên ngoài, nhất là biến động giá dầu, lương thực, tỷ giá, đứt gãy thương mại và thiên tai.
Một điều kiện quan trọng khác là nâng cao kỷ luật thực thi: chỉ tiêu giao đến đâu phải đi kèm nguồn lực, thẩm quyền, thời hạn và trách nhiệm đến đó. Đột phá quyết định của năm 2027 không phải là tăng thêm bao nhiêu vốn mà là rút ngắn thời gian biến vốn, đất đai, hạ tầng và công nghệ thành sản phẩm, năng suất, việc làm và thu nhập thực tế.
Phải biến đầu tư công thành nền tảng sinh lợi cho toàn xã hội
Trong những động lực như đầu tư công, đầu tư tư nhân, tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, ông cho rằng động lực nào hiện còn dư địa lớn nhất? Theo ông, cần làm thêm những gì để phát huy nguồn lực, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, mỗi người dân đóng góp và làm giàu chính đáng?
Tôi cho rằng đầu tư tư nhân trong nước là động lực còn tiềm năng lớn nhất.
Khu vực ngoài Nhà nước hiện chiếm khoảng 53% tổng vốn đầu tư toàn xã hội nhưng vẫn bị hạn chế bởi thủ tục, khả năng tiếp cận đất đai và vốn dài hạn, chi phí tuân thủ, rủi ro pháp lý và sự thiếu bình đẳng trong cơ hội kinh doanh.
Trong khi đó, đầu tư công đang tăng nhanh và phải giữ vai trò dẫn dắt. Xuất khẩu đã có quy mô lớn nhưng phụ thuộc nhiều vào khu vực FDI và biến động bên ngoài. Tiêu dùng trong nước là bệ đỡ quan trọng nhưng muốn tăng bền vững phải dựa trên việc làm, thu nhập và niềm tin của người dân.
Chúng ta nên lấy đầu tư tư nhân làm động lực mở rộng chủ yếu, đầu tư công làm vốn mồi, tiêu dùng làm nền tảng ổn định và xuất khẩu làm kênh nâng cấp năng lực cạnh tranh.
Trước hết, theo tôi phải bảo đảm quyền tự do kinh doanh và an toàn tài sản. Cần rà soát các điều kiện kinh doanh không cần thiết; công khai, số hóa và rút ngắn quy trình về đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế và môi trường; bảo đảm chính sách ổn định, dễ dự báo; phân biệt rõ sai phạm hành chính, dân sự với hành vi hình sự.
Mỗi doanh nghiệp và người dân phải có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đổi mới sáng tạo và tích lũy tài sản hợp pháp.
Tiêu dùng trong nước là bệ đỡ quan trọng nhưng muốn tăng bền vững phải dựa trên việc làm, thu nhập và niềm tin của người dân. Ảnh: Nguyễn Huế
Chúng ta cũng phải tạo sân chơi bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực. Đất đai, tín dụng, đấu thầu, đơn hàng công, dữ liệu và hạ tầng phải được phân bổ minh bạch theo hiệu quả, không theo quan hệ hay loại hình sở hữu. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã và doanh nghiệp khởi nghiệp cần được mở rộng cơ hội tham gia mua sắm công, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp lớn và các dự án hạ tầng.
Các kênh vốn cho sản xuất, kinh doanh cũng phải được mở rộng; phát triển thị trường trái phiếu, cổ phiếu, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí và các cơ chế bảo lãnh tín dụng; tách nhu cầu vốn trung, dài hạn khỏi tín dụng ngân hàng ngắn hạn. Tín dụng ưu tiên phải gắn với dự án khả thi, dòng tiền và năng lực quản trị, tránh cơ chế xin - cho và tránh dồn vốn vào đầu cơ tài sản.
Nhà nước phải biến đầu tư công thành nền tảng sinh lợi cho toàn xã hội; lựa chọn các dự án giao thông, logistics, điện, hạ tầng số, đô thị và nhà ở xã hội có khả năng giảm chi phí cho doanh nghiệp; công bố sớm quy hoạch và danh mục dự án để khu vực tư nhân chuẩn bị đầu tư kết nối.
Việc đánh giá đầu tư công phải bằng số vốn tư nhân huy động thêm, năng lực sản xuất mới và mức giảm chi phí logistics, không chỉ bằng tỷ lệ giải ngân.
Đối với việc thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với FDI và thị trường xuất khẩu thì chính sách ưu đãi cần đi kèm cam kết đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ, mua hàng trong nước và phát triển nhà cung ứng Việt Nam.
Bên cạnh đó là hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, xanh, số và truy xuất nguồn gốc để chuyển từ gia công sang thiết kế, chế biến sâu, thương hiệu và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Nhà nước cần tạo điều kiện để mỗi người dân trở thành một chủ thể kinh tế. Các biện pháp có thể thực hiện là: đơn giản hóa việc đăng ký kinh doanh, chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp trên nguyên tắc tự nguyện; phổ cập kỹ năng số, tài chính và nghề nghiệp; phát triển thương mại điện tử, kinh tế sáng tạo, du lịch cộng đồng và các dịch vụ đô thị.
Song song đó cần có nhà ở, giáo dục, y tế và an sinh phù hợp để người dân dám dịch chuyển, học nghề, khởi nghiệp và chấp nhận rủi ro có tính toán.
Nhà nước khuyến khích toàn dân làm giàu chính đáng đi đôi với trách nhiệm xã hội. Nhà nước cần tôn vinh người làm ăn chân chính, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh và xử lý nghiêm tham nhũng, lợi ích nhóm, gian lận và độc quyền. Thuế phải đơn giản, công bằng, khuyến khích đầu tư lại và đổi mới sáng tạo. Thành quả tăng trưởng phải tạo thêm việc làm tốt, thu nhập cao hơn và cơ hội tiếp cận dịch vụ cơ bản cho mọi người.
Nguồn lực lớn nhất còn có thể đánh thức chính là sức đầu tư, kinh doanh và sáng tạo của khu vực tư nhân và của hơn một trăm triệu người dân. Vai trò của Nhà nước là kiến tạo luật chơi minh bạch, cung cấp hạ tầng và dịch vụ công thiết yếu, sửa các thất bại của thị trường và bảo vệ người yếu thế; còn nơi trực tiếp tạo ra phần lớn sản phẩm, việc làm và thu nhập mới phải là doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân.
TS Trần Quang Thắng: 6 việc cần làm để phát triển nhanh, bền vững
Thứ nhất là đột phá về thể chế và thực thi. Đó là tháo gỡ chồng chéo pháp luật, rút ngắn thời gian phê duyệt đầu tư, phân cấp rõ trách nhiệm và bảo vệ cán bộ dám làm vì lợi ích chung. Nguồn lực chỉ trở thành năng lực sản xuất khi dự án có thể triển khai nhanh, với chi phí tuân thủ thấp và rủi ro chính sách được kiểm soát.
Thứ hai là phát triển hạ tầng đồng bộ, trong đó ưu tiên các công trình giao thông liên vùng, logistics, năng lượng, hạ tầng số và đô thị có khả năng mở ra không gian phát triển mới. Đầu tư công phải đóng vai trò vốn mồi, kéo theo đầu tư tư nhân, chứ không chỉ làm tăng quy mô chi tiêu.
Thứ ba là phân bổ nguồn lực theo hiệu quả. Ở đây, đất đai, tín dụng, ngân sách và tài sản công phải được đưa tới những dự án, doanh nghiệp và địa phương có khả năng tạo giá trị gia tăng, việc làm và năng suất cao; hạn chế cơ chế xin - cho, đầu tư dàn trải và tình trạng nguồn lực bị “găm giữ”.
Thứ tư là nâng năng lực hấp thụ của doanh nghiệp. Đó là cải thiện khả năng tiếp cận vốn dài hạn, mặt bằng sản xuất, công nghệ, dữ liệu và nhân lực; đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước và toàn cầu. Nếu doanh nghiệp không đủ năng lực tiếp nhận thì dù nguồn lực lớn cũng khó chuyển thành sản lượng thực tế.
Thứ năm là đột phá về khoa học - công nghệ và nhân lực. Việc này phải gắn đào tạo với nhu cầu doanh nghiệp, khuyến khích đổi mới công nghệ, quản trị và chuyển đổi số. Thước đo không phải là số tiền chi cho công nghệ hay số lượng đề tài, mà là mức tăng năng suất, tỷ lệ thương mại hóa và giá trị gia tăng tạo ra.
Thứ sáu là đo lường bằng kết quả đầu ra, tức là chuyển từ quản lý theo số vốn giải ngân sang đánh giá bằng tiến độ hoàn thành, năng lực sản xuất mới, chi phí logistics giảm, năng suất tăng, việc làm và thu nhập được tạo ra. Dự án không đạt mục tiêu phải được điều chỉnh hoặc thu hồi nguồn lực kịp thời.