Mỗi thế hệ tiếp thu giá trị truyền lại từ hế hệ trước, đồng thời phát triển những giá trị mới. Đừng cho rằng những gì thuộc về mình, thuộc về thế hệ của mình dứt khóa là giá trị chuẩn mực cho các thế hệ sau.

LTS: Ngày 3/8, Tuần Việt Nam đăng bài viết "Văn hóa và sự biến thái đáng sợ của ngôn ngữ". Mới đây, chúng tôi nhận được bài viết của tác giả Nguyễn Phương trao đổi xung quanh chủ đề này.

Để rộng đường dư luận, tôn trọng tính thông tin đa chiều, Tuần Việt Nam xin đăng tải bài viết dưới đây. Rất mong bạn đọc gần xa có bài viết trao đổi, tham góp ý kiến về văn hóa và việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt sao cho chuẩn mực, trong sáng.

Chuyện  ngôn ngữ chit-chat của trẻ con đã được bàn đến từ lâu. Thiết nghĩ, so với nhiều vấn đề khác nghiêm trọng hơn liên quan đến giáo dục, chuyện này không đến nỗi khiến chúng ta phải hốt hoảng[1]. Trong khuôn khổ một bài báo, người viết không tham vọng bàn sâu về khoa học ngôn ngữ, nhưng cũng xin điểm qua một số nét liên quan làm cơ sở.

Sự giao thoa và vay mượn là bình thường

Tiếng Việt, cũng như bất cứ sinh ngữ nào đều trải qua quá trình giao thoa và vay mượn. Tuy trên 60% từ ngữ tiếng Việt có nguồn gốc tiếng Hoa, nó cũng vay và 'cho vay' với các ngôn ngữ khác.

Những từ ngữ vay mượn hoặc được Việt hóa, thay đổi, hoặc giữ nguyên dạng âm thanh chữ viết. Líp (roue libre), ghi-đông (guidon), xà-phòng (savon), ... là một vài ví dụ. Bản thân chữ viết của tiếng Việt ngày nay cũng được 'mượn' của hệ chữ Latinh.

Phát minh mới sẽ tạo ra từ mới để diễn đạt khái niệm liên quan và sự vay mượn giữa các ngôn ngữ là tất yếu.

"Dịch là phản bội"[2]

Trong thực tế, không phải mọi khái niệm đều có từ vựng tương đương giữa các ngôn ngữ. Ví dụ, khái niệm "làm chủ tập thể" của ta không có tương đương khái niệm trong tiếng Anh, Pháp ..., nhưng có thể có tương đương trong tiếng Hoa, Nga ...

Trong những trường hợp như vậy, người ta phải diễn giải mà không dùng một đơn vị từ vựng tương đương.

Với những khái niệm có hình thái ngắn gọn, người sử dụng có thể mượn nguyên văn. Vì đằng nào thì khái niệm này cũng là mới trong tiếng mẹ đẻ. Ưu điểm của việc này là từ mượn sẽ ngắn gọn hơn. Ví dụ, từ file trong tiếng Anh có người dịch là tệp tin. Khi hỏi tệp tin là gì, chắc nhiều người Việt không trong ngành IT không biết tệp tin nghĩa là gì.

Vậy, tuy là từ tiếng Việt, nhưng nó vẫn là một từ hoàn toàn mới. Do vậy, có người vẫn  giữ nguyên: "Anh đã lưu cái phai (file) ấy chưa?" Ngôn ngữ mang tính quy ước, ai là người sử dụng đầu tiên có thể là người đặt 'luật chơi'.

Sự vay mượn không chỉ xảy ra với tiếng Việt. Người viết chỉ xin dẫn một ví dụ: Sự du nhập từ tiếng Anh vào tiếng Nga. Theo nghiên cứu sinh người Nga Miroslav Styblo (pp 13-21, 2007)[3], tiếng Nga vay mượn tiếng Anh từ thế kỷ 16 với những từ đầu tiên, liên quan đến trang phục, đo đạc, nghi lễ, và xã hội quý tộc, như mister, alderman, earl ...

Đến 1866, từ điển đã liệt kê 300 từ có nguồn gốc tiếng Anh. Qua mỗi thời kỳ phát triển, tiếng Nga mượn thêm từ để chỉ những khái niệm mới mà mình chưa có.

Có nhiều từ được Nga hóa, nhưng còn nhiều từ vẫn giữ nguyên dạng âm thanh của tiếng nước ngoài, trong đó có tiếng Đức và Anh, như фильм (film), джаз (jazz), бойкотировать (boycott), теннис (tennis) ... Nay có файл (file), аутсорсинг (outsourcing), хит (hit), ... và, tất nhiên, cả ... ОК (OK).

Tôi cho rằng "OK" trong tiếng Việt hiện nay hoàn toàn tốt nếu dùng đúng chỗ, đúng lúc, và đúng đối tượng. Nó được hầu hết ngôn ngữ khác trên thế giới chấp nhận trong nhiều tình huống giao tiếp.

Trên thế giới, tiếng Anh đã từ lâu tự nhiên trở thành ngôn ngữ trong giao tiếp quốc tế, ngoại giao, hội nghị, hàng không, nghiên cứu khoa học, du lịch, thể thao, v.v...  Nhưng nó mới 'mon men' đến Việt Nam nên nhiều người cứ nghĩ là nó mới nổi- thực ra, nó chỉ "mới" với ta thôi.

"Anh đã OK vé chưa?" là câu phổ dụng trong ngành hàng không. Ngày xưa, người ta hỏi "Thế cái này đã 'OTK' chưa?" thì cũng vậy thôi. "Séc (set) vừa rồi, Nadal thắng bằng tiebreak[4]." Bạn tôi dạy tiếng Anh mấy chục năm nay ở Hà Nội, mà vẫn chưa tìm ra từ tiếng Việt tương đương gọn ghẽ và súc tích 'cho bõ tức'. Thế là vẫn cứ tiebreak mà nói cho ngắn gọn dễ hiểu. Những ví dụ nói 'chêm, đệm' như vậy không chỉ xảy ra với tiếng Việt.

Tôi không có may mắn có thầy nào là giáo sư để hỏi thế nào là sinh ngữ, tử ngữ cả, nên tìm đến thày ... sách. Các nhà ngôn ngữ học thế giới định nghĩa sinh ngữ (living language) là ngôn ngữ "hiện đang được nói", đối lập với tử ngữ (dead/extinct language) là ngôn ngữ "không còn người bản ngữ"[5].


"Dịch là phản bội". Ảnh minh họa
'Bộ lọc' cá nhân

Văn hóa của bất cứ quốc gia nào, nền văn minh nào cũng tôn trọng 3 giá trị cơ bản là Chân, Thiện, và Mĩ. Người mới "gia nhập" vào một môi trường văn hóa mới giống như bước vào một "cửa hiệu bách hóa".

Người lớn, có nhận thức và ý định rõ ràng biết đâu là thứ mình đang tìm, còn trẻ con sẽ bị hấp dẫn bởi những vật xanh đỏ, lòe loẹt, nhấp nháy, ... nhưng lại có giá trị thấp. Đó là chuyện bình thường. Khi chúng là người lớn chúng sẽ lại phê phán con chúng, như ta đang phê chúng hiện nay. Trẻ con mãi là trẻ con, muôn đời vẫn vậy.

Tương tự như chọn gỗ, người thợ mộc tài hoa biết chọn cây gỗ về làm thành nhà, người vụng về sẽ chọn cây gỗ về chỉ để làm củi. Như vậy rõ ràng sự lựa chọn phụ thuộc vào trình độ học vấn, văn hóa, ... của mỗi cá nhân.

Rất buồn là không ít người lớn cũng chỉ nhìn thấy "vỏ hộp xanh đỏ" ở thùng rác và ... nhặt, rồi ngộ nhận đó là giá trị của nước người. Trong khi đó họ không đủ khả năng dung nạp được điều tốt đẹp.

Một lần tôi được 1 cán bộ cấp khá cao ngành giáo dục khoe vừa đi tham quan học tập ở Bắc Mĩ về. Khi tôi muốn biết ông nhận thức được gì từ chuyến đi ấy, ông kể: "Thác Niagara đẹp lắm". Tất nhiên như thế cũng là hay rồi, nhưng khi tôi gặng hỏi thêm thì ông nói tiếp: "Giày ở Mỹ tốt mà rẻ lắm. Tôi mua cho người nhà mỗi người 1 đôi." Câu chuyện của ông vẫn cứ theo mạch ấy.

Ngọng hay nói

Cũng như với tiếng mẹ đẻ, không phải người Việt nào cũng nói hoặc viết tiếng Việt đều hay, người biết ngoại ngữ cũng có dăm bảy loại. Chỉ cần vài phút cũng "học" được 1 ngoại ngữ, nhưng có khi mất cả đời học cũng chưa thấu. Âu đó cũng là chuyện bình thường.

Anh bạn tôi, 1 người có tên tuổi trong làng tiếng Anh, có sách, báo xuất bản bằng tiếng Anh, từng học ở một số nước nói tiếng Anh, nhưng chưa thấy bao giờ chêm 1 từ tiếng Anh nào khi nói chuyện bằng tiếng mẹ đẻ.

Trong khi đó, người hàng xóm, 1 người chỉ học làm công nhân 1 năm ở TQ và buôn hàng biên giới thì cứ mỗi khi nói mấy tiếng Tàu bồi với mấy người Tàu buôn vặt là cầm điện thoại ra ngõ nói quang quác như để... khoe với hàng xóm.

Thói quen cố hữu

Một điều đang buồn, khi đứng trước một vấn nạn, nhiều người với thói quen cố hữu ngay lập tức chối phăng trách nhiệm và ngoảnh mặt đi hướng khác để tìm nguyên nhân. Họ không muốn tìm nguyên nhân căn cốt của vấn nạn, mà cố tìm ... con dế tế thần?

Thật kì quặc nếu liên hệ việc con cháu "nói trống không" với việc học ngoại ngữ ... Khi con cháu "nói trống không", người lớn nên tự xem lại gia đình mình. Cháu tôi đều học tiếng Anh nhưng chưa thấy cháu nào vô lễ như vậy.

Không nên quá bận tâm với mấy cái ngôn từ chit-chat của trẻ con, nó đến rồi lại đi như thời trang thôi mà.

Cái thời con cháu xưng hô với bậc cha chú như 'cá mè một lứa' đang qua rồi, việc gì phải 'gây bão trong chén nước trà'.

Người lớn cứ làm gương tốt rồi mọi chuyện sẽ ổn.

Những ai biết chút tiếng Anh đều thấy ngay những bài đầu tiên đã dạy khi yêu cầu ai làm việc gì cho mình không quên từ "please", thể hiện sự lịch sự, lễ phép, nếu không thì thay bằng ngữ điệu phù hợp. Người học ngoại ngữ không đến nơi đến chốn thì không nhận ra sự tinh tế của ngữ điệu, liền ngộ nhận rằng trẻ em nước nói tiếng Anh "vô lễ" với người lớn!

 

Ai làm cho mình cái gì, chúng đều cảm ơn "thanks, ..." hoặc "thank you", ... tùy quan hệ,  mức độ thân mật. Tôi thấy mình còn phải học nhiều ở họ cách dạy con cháu. Cũng đừng nên ngộ nhận là người Mỹ chỉ nói Hê-lô (Hello).

Họ rất biết khi nào nói Hello với ai và ở đâu. Vì văn hóa giao tiếp của loài người nói chung đều có những quy ước, theo đó người ta phải biết nói thế nào khi biết mình đang "nói gì, với ai, lúc nào, và ở đâu"[6].

Các cháu tôi đôi khi gửi tin nhắn cho tôi cũng viết tắt ở mức độ chấp nhận được, để tiết kiệm. Tốt! Tôi không thấy đó làm điều. Nhưng khi nói chuyện với người lớn, cháu là người lễ phép, dùng tiếng Việt đúng chuẩn. Chỉ sợ con cháu mình nó không biết phân biệt trên-dưới thì mới đáng lo!

Con em chúng ta vấp váp khi tiếp cận với văn hóa nước ngoài, 1 phần do chúng chưa được người lớn chuẩn bị 1 nền tảng tốt. "Đi ngày đàng", người có nền tảng văn hóa và bản lĩnh chắc sẽ biết chọn cho mình cái tốt để học.

Ngược lại, sự thiếu vắng nền tảng văn hóa, tri thức, bản lĩnh và cả lòng tự trọng, ... sẽ khiến người ta đi "nhặt rác". Tình trạng hiện nay ở nước ta là như vậy.

Đừng lấy mình làm chuẩn

Mỗi thế hệ tiếp thu giá trị truyền lại từ hế hệ trước, đồng thời phát triển những giá trị mới. Đừng cho rằng những gì thuộc về mình, thuộc về thế hệ của mình dứt khóa là giá trị chuẩn mực cho các thế hệ sau.

Còn nhớ, vị lãnh đạo 1 trường đại học phát biểu tổng kết một đợt tập huấn do nước ngoài tài trợ: "Dear comrade Martin" (Thưa đồng chí Martin)! "Đồng chí" Martin sững người và... nhún vai. Cái sự giao thoa ấy mang ý nghĩa "tiêu cực" về giao tiếp và ngoại giao hơn nhiều những chuyện nhí nhắng của trẻ con.

Người lớn chúng ta cũng từng sử dụng tiếng mẹ đẻ không chuẩn, thể hiện qua những khái niệm mơ hồ, đôi khi vô nghĩa và vô khoa học thì đã ai trách? "Tội" ấy liệu có nhẹ hơn "tội" viết nhí nhắng trong chit-chat trẻ con?

Chắc nhiều người chưa quên khi chữ viết hiện nay được đưa vào hệ thống "quốc ngữ" thay cho chữ Nôm cách đây 100 năm, đã có bao nhiêu quan nhà Nguyễn chống đối vì cho rằng nó sẽ "phá vỡ thuần phong mĩ tục" của ta?

Không những không bị mai một, thuần phong mĩ tục còn được giao thoa với văn minh phương Tây và phát triển. Chúng dường như chỉ bị mai một từ khoảng ½ thế kỷ gần đây trước khi có tiếng Anh vào Việt Nam.

Tư duy nông canh thường sợ cái mới. Chính vì khước từ cái mới mà triều đình Nguyễn đã nghi kỵ những ý tưởng mới Nguyễn Trường Tộ (1830-1871) du nhập. Cùng thời đó, Fukuzawa (1835-1901) đã mang lại sự đổi thay cho đất nước bằng Kỷ nguyên Minh Trị (Meiji).

Sau khi tếp xúc với văn minh phương Tây, ông nhận ra rằng mọi thương nhân châu Âu đều nói tiếng Anh và ông quyết định học tiếng Anh. Ông được gọi là Voltaire của Nhật Bản[7].

Không nên quá bận tâm với mấy cái ngôn từ chit-chat của trẻ con, nó đến rồi lại đi như thời trang thôi mà.

Cái thời con cháu xưng hô với bậc cha chú như 'cá mè một lứa' đang qua rồi việc gì phải 'gây bão trong chén nước trà'.

Người lớn cứ làm gương tốt rồi mọi chuyện sẽ ổn.

Nguyễn Phương


[1] http://tuanvietnam.net/. 2012-08-02-

[2] Tiếng Pháp: "Traduire, c'est trahir."

[3] Miroslav Styblo Jr. 2007. English loanwords in modern Russian language. M.A. Thesis, the faculty of the University of North Carolina at Chapel Hill.

[4] Thuật ngữ trong tennis: khoảng thời gian chơi thêm để xác định người thắng set khi cả hai đều được 6 điểm.

[5] Living language. <http://en.wiktionary.org/>

[6] Fishman, J. (1965). Who speaks what language to whom and when? Trong  La Linguistique 2, S. 67-88. < www.phil.uni-greifswald.de/ >

[7] Yukichi Fukuzawa. <http://en.wikipedia.org/wiki/>

Xem bài khác trên Tuần Việt Nam