
| LTS: Chưa đầy một tuần sau khi nhậm chức, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chốt thời hạn để các bộ, ngành trình phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ và ưu tiên nguồn lực cho hoàn thiện thể chế. Những chỉ đạo quyết liệt ấy cho thấy một thông điệp rất rõ: Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể tiếp tục đi chậm trong cải cách. Cắt giấy phép con, tháo điểm nghẽn pháp lý và tạo dựng niềm tin thể chế cho khu vực tư nhân không còn là việc nên làm, mà là điều cần làm nếu muốn khơi thông nguồn lực và mở đường cho tăng trưởng bền vững. |
Chẳng hạn, doanh nghiệp muốn thay đổi mục đích sử dụng nguyên liệu trong hoạt động kinh doanh xăng dầu phải có văn bản đồng ý của Bộ Công Thương, theo Dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Nghị định kinh doanh xăng dầu.
Điều khiến doanh nghiệp lo nhất là: Dự thảo không nói rõ khi nào được đồng ý, khi nào bị từ chối, tiêu chí chấp thuận là gì, hồ sơ ra sao.
Thực tế, thủ tục chậm không chỉ là thêm vài khoản chi phí hành chính. Với doanh nghiệp, chậm ba tháng có thể đồng nghĩa với mất mùa kinh doanh, mất cơ hội thị trường, mất luôn lợi thế cạnh tranh.
Bởi vậy, câu chuyện cải cách điều kiện kinh doanh không đơn thuần là cắt vài giấy phép con mà là chuyện Nhà nước quản lý nền kinh tế.

Luật Doanh nghiệp 1999 lần đầu tiên xác lập một nguyên tắc mang tính bước ngoặt: Doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh tất cả những gì pháp luật không cấm. Thay đổi ấy đã khiến hàng ngàn loại giấy phép tự động bị bãi bỏ vào đầu những năm 2000.
Đến năm 2014, Luật Đầu tư tiếp tục tạo ra một bước tiến dài khi lần đầu tiên danh mục ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được ban hành kèm theo luật, xác định rõ chỉ Quốc hội mới có quyền thay đổi danh mục đó. Hàng ngàn điều kiện kinh doanh một lần nữa hết hiệu lực.
Tuy nhiên đến hôm nay, cả nước vẫn còn 198 ngành nghề kinh doanh có điều kiện và 4.603 điều kiện kinh doanh.
Chưa đầy một tuần sau khi nhậm chức, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chốt thời hạn 20/4 để các bộ, ngành phải trình phương án cắt giảm điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính. Việc chốt thời hạn chỉ trong vài ngày, yêu cầu bộ trưởng phải trực tiếp vào cuộc và gắn trách nhiệm cá nhân với kết quả cải cách cho thấy một tín hiệu rất rõ: Chính phủ không còn chấp nhận sự trì trệ quen thuộc của bộ máy.
Cách đặt vấn đề của Thủ tướng cho thấy một tinh thần khác: Không chỉ yêu cầu cắt giảm trên giấy, mà đòi hỏi hiệu quả thực chất mà doanh nghiệp có thể cảm nhận được.
Mục tiêu cũng rất cụ thể: Cắt giảm 30% số ngành nghề kinh doanh có điều kiện, giảm 50% thời gian và chi phí tuân thủ, bãi bỏ toàn bộ những điều kiện kinh doanh không còn phù hợp.
Con số ấy cho thấy đây không còn là một cuộc chỉnh sửa kỹ thuật nhỏ lẻ mà là một cuộc tổng rà soát lớn với áp lực thực thi rất thật.
TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từng nói rằng, nếu bắt các bộ tự rà soát để bỏ điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực mình quản lý thì rất khó triệt để, vì chẳng khác nào bảo họ tự giảm bớt các quyền của mình. Đó là lý do vì sao cải cách môi trường kinh doanh suốt nhiều năm qua thực hiện còn chậm. Giấy phép cũ mất đi, giấy phép mới lại xuất hiện dưới một tên gọi khác.
Vì vậy, TS Nguyễn Đình Cung cho rằng không đơn thuần là thay đổi một vài quy định, mà là thay đổi cách quản lý, từ công cụ, tổ chức đến năng lực thực thi; nói cách khác, đó là thay đổi cả hệ thống.
Chính vì vậy, điều quan trọng nhất không phải là cắt bao nhiêu điều kiện kinh doanh, mà là doanh nghiệp có bớt phải làm thủ tục bao nhiêu lần hay không.
Cho nên, Thủ tướng Lê Minh Hưng đã nhấn mạnh rằng, cắt giảm số lượng điều kiện kinh doanh là quan trọng, nhưng bản chất và nội hàm bên trong các điều kiện còn quan trọng hơn; phải thực sự cắt giảm được thời gian và chi phí tuân thủ. Có thể số lượng cắt giảm không nhiều, nhưng lại mang lại hiệu quả lớn.
Đây là một thay đổi rất đáng chú ý trong tư duy cải cách.
Thước đo của cải cách không nằm ở số văn bản bị gạch bỏ, mà ở việc một doanh nghiệp mở nhà máy nhanh hơn bao nhiêu tháng, một hộ kinh doanh bớt được bao nhiêu chi phí tuân thủ, một nhà đầu tư có bớt phải đi xin chữ ký hay không.
Kết luận 18-KL/TW của Bộ Chính trị cũng đã chỉ rất rõ hướng đi: Phải chuyển mạnh phương thức quản lý nhà nước từ tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn với xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật và tăng cường kiểm tra, giám sát.
Đây không phải là một thay đổi kỹ thuật, mà là thay đổi triết lý quản trị bắt đầu từ một logic khác: Doanh nghiệp được quyền làm, miễn là sản phẩm đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường và an toàn; nếu vi phạm thì xử lý nghiêm bằng hậu kiểm.
Phó Tổng thư ký VCCI Đậu Anh Tuấn đề xuất áp dụng nguyên tắc “one-in, one-out” tức là mỗi điều kiện kinh doanh mới phải đi kèm với việc bãi bỏ ít nhất một điều kiện cũ không thuận lợi tương đương. Đây là một cách làm đáng suy nghĩ.
Cùng với đó, Bộ Tư pháp cần làm đúng vai trò “gác cửa”, kiểm soát thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh; các Bộ trưởng chịu trách nhiệm nếu để lọt những quy định bất hợp lý. Người dân và doanh nghiệp chỉ nên cung cấp thông tin một lần, việc tra cứu sẽ thuộc về bộ máy quản lý.
Cải cách thể chế, suy cho cùng, không chỉ là giảm bớt giấy tờ trên bàn làm việc của doanh nghiệp mà là còn trao cho họ quyền được kinh doanh. Vì vậy, muốn khu vực tư nhân thực sự trở thành động lực tăng trưởng, Nhà nước thay vì làm “người gác cổng” mà trở thành người mở đường.
Kì tới: 3,3 triệu tỷ đồng đang chờ được đánh thức
