Trong tiến trình phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, tỉnh Gia Lai đang từng bước chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý sản xuất, thu thập dữ liệu và kết nối thị trường nông sản. Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, đây là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản trị ngành, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Gia Lai là địa phương có diện tích tự nhiên lớn thứ hai cả nước, với gần 1,23 triệu ha đất sản xuất nông nghiệp. Lợi thế về đất đỏ bazan, khí hậu và nguồn nước đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, cao su, sầu riêng, chanh dây, chuối, bơ. Tuy nhiên, cùng với mở rộng sản xuất, yêu cầu đặt ra là phải quản lý hiệu quả thông tin về vùng trồng, quy trình canh tác và sản lượng, làm cơ sở phục vụ tiêu thụ và xuất khẩu.

W-20. Gia Lai đẩy mạnh công nghệ thông tin trong quản trị thị trường nông sản 1.jpg
Lợi thế về đất đỏ bazan, khí hậu và nguồn nước đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê, hồ tiêu, cao su, sầu riêng...

Thông tin từ Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai cho thấy, thời gian qua, ngành nông nghiệp địa phương đã tham mưu Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh ban hành nhiều chủ trương, kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, gắn sản xuất với thị trường. Một trong những nội dung trọng tâm là xây dựng và quản lý hệ thống mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói nông sản xuất khẩu. Đến nay, toàn tỉnh đã có 267 mã số vùng trồng và 39 mã số cơ sở đóng gói, tạo nền tảng quan trọng cho việc quản lý dữ liệu sản xuất và truy xuất nguồn gốc.

Cùng với đó, Gia Lai đã hình thành và phát triển hàng trăm vùng sản xuất nông nghiệp tập trung theo hướng hàng hóa, chuyên canh. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, gần 255.700 ha cây trồng trên địa bàn đang được sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, 4C, Organic, Rainforest Alliance. Việc áp dụng các tiêu chuẩn này không chỉ nâng cao chất lượng nông sản mà còn giúp chuẩn hóa thông tin sản xuất, phục vụ công tác quản lý và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Một nội dung đáng chú ý khác là việc nâng cao năng lực quản trị cơ sở thông tin dữ liệu sản xuất nông nghiệp. Ngành nông nghiệp Gia Lai xác định rõ yêu cầu đảm bảo minh bạch, đầy đủ và rõ ràng về nguồn gốc, quy trình sản xuất, tiêu chuẩn chất lượng của nông sản. Các thông tin này được coi là điều kiện quan trọng để người tiêu dùng và các bên liên quan có thể truy xuất, kiểm chứng và tin cậy đối với sản phẩm nông nghiệp của địa phương.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai, việc quản lý và chia sẻ dữ liệu sản xuất còn gắn chặt với tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Hiện nay, toàn tỉnh có gần 247.400 ha cây trồng thực hiện liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, với sự tham gia của 81 hợp tác xã, 78 tổ hợp tác và 132 doanh nghiệp. Trong các chuỗi liên kết này, thông tin về vùng nguyên liệu, sản lượng, chất lượng và tiêu chuẩn sản xuất đóng vai trò then chốt, giúp kết nối hiệu quả giữa người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp tiêu thụ.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý dữ liệu cũng góp phần quan trọng vào nâng cao năng lực chế biến và xuất khẩu nông sản. Nhiều sản phẩm chủ lực của Gia Lai như cà phê, hồ tiêu, trái cây, hạt mắc ca, hạt điều được kiểm soát chặt chẽ về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm trước khi đưa ra thị trường. Theo thông tin từ ngành nông nghiệp địa phương, các sản phẩm này đã được xuất khẩu sang nhiều thị trường như EU, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Đặc biệt, Sở Nông nghiệp và Môi trường Gia Lai nhấn mạnh việc minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc là yếu tố quan trọng để tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng trong nước và các thị trường xuất khẩu. Khi dữ liệu sản xuất được quản lý đầy đủ, rõ ràng, nông sản không chỉ đáp ứng yêu cầu kỹ thuật mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Có thể thấy, trong định hướng phát triển vùng nguyên liệu tập trung và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, Gia Lai đang từng bước coi công tác quản trị thông tin và dữ liệu sản xuất là nền tảng, đây là cơ sở quan trọng để ngành nông nghiệp địa phương nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất, gắn kết chặt chẽ với thị trường tiêu thụ và hướng tới phát triển bền vững trong thời gian tới.