
Những "vùng lõm" giữa đại ngàn
Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ nước ta, là nơi cư trú của hơn 14 triệu người (chiếm 14,6% dân số cả nước) thuộc 53 dân tộc anh em. Đây là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng nhưng cũng là khu vực khó khăn nhất cả nước với địa hình chia cắt, khí hậu khắc nghiệt và hạ tầng còn nhiều thiếu thốn.
Trong khi thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số, thì tại nhiều bản làng xa xôi, vẫn còn tình trạng bà con “đói” thông tin thời sự, kiến thức sản xuất và các chính sách mới của Đảng, Nhà nước.
Tham luận tại một hội thảo về công tác dân tộc cách đây ít lâu, ông Đinh Xuân Thắng, chuyên gia về công tác dân tộc, trăn trở đề cập con số 59,1% hộ nghèo đa chiều toàn quốc tập trung ở vùng dân tộc thiểu số.
“Sự phân hóa giàu - nghèo và bất bình đẳng xã hội có xu hướng gia tăng. Trong đó, giáo dục và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, bao gồm thông tin, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn khoảng cách rất xa so với bình quân chung. Nhiều nơi sóng yếu, thiếu phương tiện tiếp cận, khiến thông tin chính thống chưa thể đến tận từng người dân một cách kịp thời”, ông Thắng nhận định.
Sự thiếu hụt này không chỉ làm chậm tiến trình phát triển kinh tế của địa phương mà còn tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng, tung tin giả, xuyên tạc chính sách dân tộc nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết. Khi trình độ dân trí còn hạn chế, việc nhận diện và “tự miễn dịch” trước các thông tin xấu độc vẫn là một thách thức lớn.

“Cầu nối” đưa thông tin về bản
Để giảm nghèo thông tin, việc cần làm không chỉ dừng ở việc phủ sóng viễn thông hay lắp đặt loa truyền thanh… cho thông tin đến với bà con, mà phải để thông tin "thẩm thấu" vào đời sống hàng ngày.
Chuyên gia Đinh Xuân Thắng lưu ý, già làng, trưởng bản và người có uy tín được xem là những “cầu nối” thông tin đặc biệt quan trọng. Họ hiểu rõ phong tục, tập quán, nói được tiếng dân tộc và có ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng địa phương. Thông qua họ, các chủ trương, chính sách vốn khô khan sẽ được truyền tải một cách dễ hiểu, gần gũi, giúp bà con dễ tiếp thu và thực hiện.
Họ cũng chính là “hạt nhân” không thể thay thế trong việc nâng cao “sức đề kháng” của cộng đồng, kịp thời phản ứng trước âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.
Cũng theo ông Thắng, giảm nghèo thông tin đòi hỏi một chiến lược đa dạng, kết hợp giữa công nghệ hiện đại và truyền thống. Bên cạnh việc nâng cấp hệ thống truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông kết nối trực tiếp từ Trung ương đến cấp xã, việc duy trì các phương thức tuyên truyền miệng, trực quan vẫn có giá trị cao.
Ông Thắng nhấn mạnh sự cần thiết của việc sản xuất nội dung truyền thông bằng tiếng dân tộc phù hợp với từng vùng, miền để xóa đi rào cản ngôn ngữ, giúp chính sách thấm sâu vào lòng dân. Những câu chuyện về gương người tốt, việc tốt, những video ngắn song ngữ trên mạng xã hội… sẽ là những “luồng gió mới” mang kiến thức khoa học kỹ thuật đến với nương rẫy một cách sinh động nhất.
“Thông tin phải chính xác, kịp thời, dễ hiểu và thuyết phục. Chúng ta cần gắn thông tin chính thống với những vấn đề cụ thể, sát sườn ở địa phương, sử dụng ngôn ngữ gần gũi và tôn trọng phong tục tập quán của bà con để thông tin thực sự trở thành nguồn lực phát triển”, ông Thắng nhấn mạnh.
Giảm nghèo thông tin cho đồng bào vùng cao muốn thành công thì cần có sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị. Khi “dòng chảy” thông tin được khơi thông, mỗi người dân sẽ tự tin vươn lên thoát nghèo, trở thành một "cột mốc" vững chãi, bảo vệ bình yên cho bản làng nơi biên cương.
