
Ký hợp đồng bảo hiểm hàng tỷ đồng nhưng không khai bệnh
Theo hồ sơ vụ án, trong các ngày 17/6/2014 và 24/7/2014, ông Đặng Lâm Quốc B. đã lập 3 giấy yêu cầu tham gia các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của một doanh nghiệp bảo hiểm, với tổng giá trị bảo hiểm lên tới hàng tỷ đồng.
Cụ thể, ông B. tham gia hai hợp đồng bảo hiểm có giá trị mỗi hợp đồng 1,5 tỷ đồng và một hợp đồng trị giá 2,5 tỷ đồng. Người thụ hưởng là mẹ, vợ và con của ông.
Sau khi tiếp nhận hồ sơ, doanh nghiệp bảo hiểm đã tiến hành kiểm tra sức khỏe đối với ông B. và chấp nhận bảo hiểm, dù có điều chỉnh tăng phí do ghi nhận một số vấn đề liên quan đến sức khỏe.
Trong các giấy yêu cầu bảo hiểm cũng như khi kiểm tra sức khỏe, ông B. đều khai báo không mắc bệnh, không điều trị bệnh và không có bất thường nghiêm trọng về sức khỏe.

Tuy nhiên, các tài liệu trong hồ sơ vụ án cho thấy trước thời điểm ký hợp đồng, ông B. đã nhiều lần đi khám, xét nghiệm và điều trị tại nhiều bệnh viện trong và ngoài nước. Kết quả y khoa xác định ông mắc bệnh ung thư di căn với tình trạng nghiêm trọng.
Đến ngày 12/3/2015, ông B. tử vong. Sau đó, gia đình ông yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm chi trả quyền lợi theo các hợp đồng đã ký.
Phía doanh nghiệp bảo hiểm từ chối chi trả, cho rằng ông B. đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi tham gia bảo hiểm do không khai báo trung thực tình trạng bệnh lý.
Tòa án xác định doanh nghiệp bảo hiểm không phải chi trả
Vụ việc sau đó được đưa ra xét xử và trải qua nhiều cấp tòa với các quan điểm khác nhau.
Tại bản án sơ thẩm năm 2017, Tòa án nhân dân TP Thủ Dầu Một (Bình Dương) đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của gia đình ông B., buộc doanh nghiệp bảo hiểm phải chi trả toàn bộ số tiền bảo hiểm cho những người thụ hưởng.
Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã sửa bản án, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của gia đình ông B. với doanh nghiệp bảo hiểm. Tòa án xác định ông B. đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng bảo hiểm.
Theo nhận định của tòa, có đủ cơ sở xác định trước khi ký các hợp đồng bảo hiểm, ông B. đã biết rõ tình trạng bệnh ung thư của mình và đã điều trị tại nhiều cơ sở y tế. Tuy nhiên, ông không khai báo trung thực trong các giấy yêu cầu bảo hiểm cũng như trong quá trình kiểm tra sức khỏe.
Tòa án cũng nhấn mạnh, việc doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức kiểm tra sức khỏe không thay thế nghĩa vụ kê khai đầy đủ, trung thực của bên mua bảo hiểm. Nghĩa vụ này thuộc về người tham gia bảo hiểm theo quy định của pháp luật và điều khoản hợp đồng.
Trên cơ sở đó, tòa xác định ông B. đã vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Đây là căn cứ để doanh nghiệp bảo hiểm được quyền từ chối trách nhiệm chi trả quyền lợi bảo hiểm.
Sau đó, vụ án tiếp tục được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau nhiều lần kháng nghị, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã quyết định giữ nguyên bản án phúc thẩm, đồng thời khẳng định việc không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở pháp lý.
Theo quyết định cuối cùng, các hợp đồng bảo hiểm bị chấm dứt hiệu lực do bên mua bảo hiểm cố ý vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin. Doanh nghiệp bảo hiểm không phải chi trả quyền lợi bảo hiểm đối với rủi ro đã xảy ra.
Đáng chú ý, theo điều khoản hợp đồng, giá trị hoàn lại trong năm đầu tiên gần như bằng 0. Do đó, phía gia đình cũng không được hoàn lại khoản tiền đáng kể từ các hợp đồng đã tham gia.
Từ vụ việc này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã phát triển thành án lệ liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin trong hợp đồng bảo hiểm.
Đó là, trong trường hợp bên mua bảo hiểm biết rõ tình trạng bệnh hiểm nghèo của mình nhưng không khai báo trung thực khi giao kết hợp đồng, dẫn đến rủi ro xảy ra trong thời hạn bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm không phải chịu trách nhiệm chi trả.
