Khoản nợ hơn 19 triệu bị yêu cầu nộp hơn 330 triệu đồng

Ngày 4/10/2000, bà G. đăng ký quyền sử dụng diện tích đất 108,4m2 tại phường T, TP B., tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 15/1/2007, UBND TP B. cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà G. và chồng là ông Phan Thế A.

Do khó khăn về tài chính, tháng 7/2007, bà G. làm đơn xin ghi nợ tiền sử dụng đất. Ngày 8/8/2007, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất TP B. ghi nhận số tiền nghĩa vụ tài chính bà còn nợ là hơn 19,5 triệu đồng trên giấy chứng nhận.

9 năm sau, ngày 20/6/2016, bà G. làm đơn xin thanh toán khoản nợ này. Tuy nhiên, ngày 29/6/2016, Chi cục Thuế TP B. ban hành thông báo yêu cầu bà phải nộp tới hơn 330 triệu đồng.

Long Khánh - Đồng Nai (47).jpg
Từ khoản nợ tiền sử dụng đất hơn 19 triệu đồng bị yêu cầu nộp hơn 330 triệu đồng, một người dân đã thắng kiện cơ quan thuế. Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Không đồng ý, bà G có đơn khiếu nại. Sau đó, Chi cục trưởng Chi cục Thuế TP B. ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, chấp nhận một phần đơn khiếu nại của bà G., xác định nghĩa vụ tài chính còn hơn 256 triệu đồng.

Cho rằng việc tính toán này không đúng quy định pháp luật, bà G. khởi kiện, yêu cầu hủy các quyết định trên và đề nghị được thanh toán theo đúng số tiền đã ghi nợ trên giấy chứng nhận.

Phía Chi cục Thuế TP B. cho rằng, thời điểm bà G. xin thanh toán nợ là năm 2016, khi Nghị định 45/2014/NĐ-CP của Chính phủ đang có hiệu lực. Do đã quá thời hạn 5 năm kể từ ngày ghi nợ, nên khoản tiền sử dụng đất phải tính lại theo giá đất tại thời điểm trả nợ.

Trong khi đó, bà G. cho rằng khoản nợ đã được xác định và ghi nhận từ năm 2007, nên khi thanh toán phải áp dụng chính sách và giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.

Tại bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân TP B. không chấp nhận yêu cầu của bà G. đối với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan thuế, nhưng lại chấp nhận hủy thông báo thuế ban đầu.

Không đồng ý với phán quyết này, bà G. tiếp tục kháng cáo. Đồng thời, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai cũng có quyết định kháng nghị.

Tòa xác định cơ quan thuế áp dụng sai quy định

Xét xử phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai nhận định, cấp sơ thẩm đã xác định chưa đầy đủ quan hệ tranh chấp, khi không xem xét toàn diện cả quyết định hành chính và hành vi hành chính trong vụ án.

Về nội dung, tòa cho rằng lập luận của Chi cục Thuế TP B. là không có căn cứ.

Theo Hội đồng xét xử, thời điểm bà G. được cấp giấy chứng nhận và xác định nghĩa vụ tài chính là năm 2007, khi các quy định tại Nghị định 198/2004 và Nghị định 17/2006 của Chính phủ đang có hiệu lực.

Các quy định này cho phép hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất và xác định số tiền phải nộp theo giá đất tại thời điểm cấp giấy chứng nhận.

Đáng chú ý, pháp luật tại thời điểm đó không quy định thời hạn bắt buộc phải thanh toán khoản nợ trong vòng 5 năm, cũng không yêu cầu phải tính lại theo giá đất tại thời điểm trả nợ.

Tòa cũng xác định, việc chậm trễ trong quá trình cấp giấy chứng nhận và ghi nợ là do cơ quan nhà nước, không phải lỗi của bà G.

Do đó, khi bà G. thanh toán khoản nợ, số tiền phải nộp phải được xác định theo số tiền đã ghi trên giấy chứng nhận, không phải theo giá đất tại thời điểm năm 2016.

Từ các phân tích trên, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà G.

Cụ thể, tòa tuyên hủy thông báo thuế ngày 29/6/2016 và quyết định giải quyết khiếu nại của Chi cục trưởng Chi cục Thuế TP B.

Đồng thời, buộc Chi cục Thuế TP B. phải thực hiện lại việc xác định nghĩa vụ tài chính của bà G. theo đúng quy định pháp luật.

Về án phí, Chi cục Thuế TP B. phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm. Bà G. không phải chịu án phí và được hoàn trả toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp.