Ben Bernanke đã cứu nền kinh tế Mỹ - và đang vận hành nó một cách xuất sắc để vượt qua giai đoạn khó khăn nhất.

Cục Dự trữ liên bang Mỹ được thành lập cách đây 99 năm, như một bức tường thành bảo vệ hệ thống ngân hàng và thứ thuốc giải cho những nỗi sợ hãi cứ thi thoảng lại xuất hiện. Nói đúng ra, đó là nỗ lực thứ ba của Mỹ trong việc thành lập một ngân hàng trung ương. Ngân hàng đầu tiên, do Quốc hội đứng ra tổ chức vào năm 1791, theo quy định sẽ hết hiệu lực trong vòng 20 năm, đã để lại cho đất nước cộng hòa non trẻ với một hệ thống chắp vá các ngân hàng nhà nước yếu kém.

Trong cuộc chiến tranh năm 1812, Quốc hội nhận ra sai lầm của mình (rằng không có ngân hàng trung ương, lạm phát sẽ không thể kiểm soát), và năm 1816, cơ quan này lại lập một ngân hàng thứ hai cũng sẽ chỉ được phép tồn tại trong 20 năm (có tên gọi là "First Bank of the United States" (học theo mô hình ngân hàng Anh quốc)). Ngân hàng Hoa Kỳ Thứ hai (Second Bank of the United States) về cơ bản là một thành công. Giấy bạc của ngân hàng này được lưu thông như tiền tệ, và nó khéo léo quản lý nguồn cung tiền để duy trì hoạt động mạnh mẽ của nền kinh tế.

Tuy nhiên, tổng thống Andrew Jackson, người phản đối quyết liệt cả việc dùng tiền giấy và các ngân hàng quốc gia, đã vận động phản đối gia hạn hiến chương này vào năm 1832, và gián tiếp chống lại vị chủ tịch đầy thông minh những cũng rất bốc đồng của ngân hàng, Nicholas Biddle. Khi sự bức xúc đối với các nhà tài phiệt lên đến đỉnh điểm, cuộc bầu cử trở thành cuộc trưng cầu dân ý về người chủ ngân hàng Philadenphia lịch thiệp với vị chiến binh anh hùng vụng táo tợn - và về chính bản thân ngân hàng này. Jackson giành chiến thắng, và Ngân hàng. Thứ hai, đúng như lời hứa của ông, đã bị giải tán. Nền kinh tế Mỹ ngay lập tức rơi vào khủng hoảng trầm trọng. Biddle mất sau đó không lâu, và dù thất thế, nhưng cuộc đấu tranh giữa giới chủ ngân hàng với những người dân túy không bao giờ biến mất.

Thời gian gần đây, Biddle nếu còn sống hẳn cũng sẽ không bất ngờ với những lời công kích dành cho Ben Bernanke, và người ta sẽ đặt câu hỏi liệu Fed có được cử chi ủng hộ nhiều hơn Ngân hàng Thứ hai trong thế kỷ 19 hay không. Bản thân Bernanke chắc chắn cũng sẽ khó chiến thắng trong cuộc đua giành sự ủng hộ của người dân.

Năm 2010, bốn năm sau khi được tổng thống George W. Bush bổ nhiệm làm người đứng đầu Cục dự trữ, ông đã được Thượng viện chấp thuận làm nhiệm kỳ thứ hai, với số phiếu 70/30 - chênh lệch nhỏ nhất đối với một một chủ tịch Cục dự trữ liên bang từ trước đến nay. (Năm 2010, Alan Greenspan giữ nhiệm kỳ thứ tư với số phiếu 89/4). Rắc rối của Bernanke với các chính trị gia là hệ quả trực tiếp của việc ông mất điểm trong các cuộc bỏ phiếu, và từ khi được tái bổ nhiệm, những con số này thậm chí còn đang thêm phần xấu hơn.

Trong một cuộc thăm dò ý kiến của Bloomberg tháng 9 năm ngoái, chỉ 29% người được hỏi thể hiện quan điểm ủng hộ Bernanke; 35% có quan điểm không ủng hộ. Tháng 10,chỉ  40% những người tham gia khảo sát của Gallup cho biết họ tin tưởng các sáng kiến của Bernanke sẽ tạo ra việc làm; ngay cả các nhà lãnh đạo trong Quốc hội còn tạo được sự tin tưởng lớn hơn thế.

Hơn 4 năm rưỡi qua, ông Bernanke, 58 tuổi, làm chủ tịch trong một giai đoạn khủng hoảng duy trì liên tục nhất so với bất cứ vị công chức nào trong thời gian gần đây, với số mệnh của hàng triệu người thất nghiệp và bán thất nghiệp đang bị treo lơ lửng. Chỉ mới gần đây, nền kinh tế mới bắt đầu có dấu hiệu cho thấy phục hồi có sức sống.

Ảnh minh họa

Từ tháng 8/2007, Bernanke đã triển khai Fed như một nhà cho vay cuối cùng cho hệ thống ngân hàng và làm việc cật lực để cung cấp một "đồng tiền co giãn" (theo nhu cầu) - nghĩa là luôn giữ đủ tiền trong lưu thông để nền kinh tế hoạt động tốt. Đây chính là những nhiệm vụ mà các nhà sáng lập Fed nhắm tới. Bernanke đã thực hiện bằng cách tăng gấp ba lần quy mô bảng quyết toán của Fed - lên con số ngất ngưởng 2,9 nghìn tỷ USD - và bằng cách sáng tạo ra một loạt các chương trình cho vay mới tới các ngân hàng và các tổ chức tư nhân khác.

Trong phần lớn lịch sử tồn tại của Fed, công luận - nhìn chung không muốn kinh tế đình trệ - thường đồng tình với những nỗ lực như vậy, nhưng hiện tại, phẫn nộ đối với chính phủ và ngân hàng, dân chúng không khỏi hoài nghi về Bernanke. Tháng 11/2010, Ron Paul đã gãi đúng chỗ ngứa khi ông đặt câu hỏi bằng cách nào Fed có thể tạo ra 600 tỷ USD trong khoảng thời gian gấp gáp như vậy. Michele Bachmann cũng vậy, quay Bernanke như chong chóng trong một phiên điều trần trước Quốc hội vài tháng trước, sau sự cố chương trình, khi bà hỏi "Ông có biết giới hạn thẩm quyền nào mà Cục dự trữ Liên bang đã vượt quá kể từ tháng 3/2008 hay không?"

Các chương trình độc đáo của Bernanke được triển khai trong hai giai đoạn. Trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009, ông đã giải cứu một số ngân hàng lớn, triển khai một loạt các hoạt động cho vay đầy sáng tạo để giải ngân tín dụng cho các ngân hàng, doanh nghiệp nhỏ, và người tiêu dùng (gần như toàn bộ các khoản cho vay này đã được hoàn lại, làm lợi cho người đóng thuế). Ông cũng hạ lãi suất xuống gần bằng không và yêu cầu các ngân hàng tư nhân tiến hành một loạt các stress test để đảm bảo mức độ khả năng thanh toán tối thiểu. Mặc dù còn nhiều phản đối gay gắt đối với các gói cứu trợ, nhưng không thể phủ nhận giai đoạn đầu tiên này chính là một thành công. Có thể cuộc giải cứu còn chưa được điều hành đâu ra đấy, nhưng giai đoạn khủng hoảng tài chính cho tới hiện tại đã kết thúc rồi.

Stress test là các tính toán giả định tình hình sức khỏe của các ngân hàng với một số tình huống giả định khác nhau về điều kiện kinh tế và thị trường. Mục tiêu của việc thực hiện stress test là giúp cho các nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thông tin đầy đủ về hệ thống ngân hàng, nhất là tình hình vốn và và tính thanh khoản nếu khủng hoảng tiếp tục kéo dài hay những tác động mạnh từ thị trường tài chính xảy ra. Nhưng có lẽ đóng góp quan trọng nhất của stress test là qua bản kết quả, cho thị trường thấy các ngân hàng không đến nỗi nguy ngập như mọi người nghĩ, nhờ vậy khôi phục lại niềm tin của các nhà đầu tư).

Trong giai đoạn thứ hai, Bernanke đã cố gắng vực dậy một nền kinh tế yếu bằng cách tiếp tục duy trì lãi suất thấp gần bằng không, và mua lại khối lượng lớn trái phiếu kho bạc dài hạn và chứng khoán thế chấp. Giai đoạn thứ hai này có lẽ gây tranh cãi hơn giai đoạn thứ nhất. Thành công của nó khó đo lường hơn (chúng ta không có cách nào biết được liệu sự phục hồi của nền kinh tế sẽ kém mạnh mẽ hơn và sút kém đi bao nhiêu nếu không có những nỗ lực của Bernanke). Và nó khiến Bernanke phải nhận lấy những lời buộc tội là đã gây ra những rắc rối quá nghiêm trọng trong khu vực tư nhân, làm rối loạn nhịp độ tự nhiên của nền kinh tế đã qua thời điểm còn cần thiết những can thiệp như vậy.

Đặc biệt, giới phê bình còn chỉ trích Fed đã nhồi vào hệ thống ngân hàng 1,5 nghìn tỷ dự trữ thặng dư (excess reserves - số tiền dự trữ đã nộp (actual reserves) trừ tỉ lệ dự trữ bắt buộc (required reserves)) - số tiền mà các ngân hàng hiện không sử dụng, nhu cầu cho vay khiêm tốn, nhưng cũng có thể một ngày nào đó sẽ làm bùng phát đại dịch lạm phát.

Michael Bordo, một sử gia tiền tệ tại Đại học Rutgers, New Jersey, nói với tôi rằng trong giai đoạn thứ hai, "Bernanke đã chuyển sang những lĩnh vực hoàn toàn không liên quan đến những gì các nhà sáng lập luôn tâm niệm. Một trong những rủi ro mà Fed đang phải đối mặt là họ đã đi quá xa". Những chỉ trích tương tự cũng đã xuất hiện, ít dè dặt hơn, trong quá trình vận động tranh cử tổng thống. Hồi tháng 8, Thống đốc bang Texas Rick Perry phát biểu, Bernanke, người đã lèo lái nền kinh tế ra khỏi vũng bùn tồi tệ nhất kể từ thời kỳ Đại suy thoái, là "người gần như không thể tin cậy - hay theo quan điểm của tôi là kẻ mưu phản".

Ông cũng từng đưa ra một tuyên bố nổi tiếng, "Nếu gã này in thêm tiền trong thời gian từ nay đến bầu cử, tôi không biết người ta sẽ làm gì với ông ở Iowa, nhưng chúng tôi sẽ khó đối xử tốt với ông ở Texas". Đa số các ứng cử viên Cộng hòa (GOP) khác đều cố gắng tấn công vào Bernanke theo cách để không thể hiện ra là họ đang tạo ra một sự phân biệt đối xử với ông. Newt Gingrich gọi Bernanke là chủ tịch Fed "lạm phát và nguy hiểm nhất" trong lịch sử - một tuyên bố rất đáng lưu ý bởi trong suốt nhiệm kỳ của Bernanke, lạm phát tính theo Chỉ số giá tiêu dùng đạt bình quân thấp hơn 2,4% so với của bất kỳ người đứng đầu Fed nào khác kể từ sau Chiến tranh Việt Nam.

Mitt Romney, người trước đó từng ca ngợi Bernanke vì những gì ông đã làm được, hồi tháng 9 cũng hứa, nếu đắc cử, ông sẽ thay thế Bernanke. Harman Cain cũng vậy. (Nhiệm kỳ của Bernanke kết thúc vào năm 2014). Paul Raul, người chủ trương trở lại bản vị vàng, hồi tháng 11 cũng gọi Fed, với quyết định từ bỏ chế độ bản vị vàng từ năm 1971, là "vô đạo đức". Tháng Giêng, phần nhờ thái độ chống đối của ông đối với Fed, Paul đã về đích ở vị trí thứ ba trong cuộc họp kín của ban lãnh đạo để chọn người ra ứng cử ở Iowa và thứ hai trong cuộc bầu cử sơ bộ ở New Hamsphire.

Dù Bernanke là một đảng viên Cộng hòa, nhưng các Nghị sĩ Cộng hòa trong Quốc hội vẫn liên tục duy trì một cuộc chiến chống lại ông, đe dọa kiểm toán lại các động thái lãi suất của Fed; cáo buộc Bernanke che đậy thông tin; từ chối bổ sung hai vị trí trống trong ban thống đốc gồm 7 người của Fed, cơ quan mà Bernanke làm chỉ tịch; và phản đối bản tóm tắt chính sách của ông về cải cách hoạt động thế chấp. Tháng 9 năm goái, khi Bernanke đang lên kế hoạch phát động chiến dịch mới nhất nhằm kích thích kinh tế, còn được gọi là Chiến dịch Twist, lãnh đạo đảng Cộng hòa và Thượng viện đều công khai kêu gọi ông nên ngừng lại - một nỗ lực hiếm thấy của Quốc hội khi can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền tệ. Bernanke đã thách thức họ.

(Còn tiếp)

Đình Ngân dịch từ Theatlantic