Chứng kiến bữa ăn của công nhân chỉ có cơm độn và vài lát dưa sau ngày TPHCM vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh, Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt đã đặt ra một câu hỏi mở đường cho những kế hoạch "xé rào", "bung ra" giữa thời kỳ được độc lập, tự do.
Trong 40 năm kể từ khi Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 6 của Đảng (năm 1986), TPHCM đã trải qua hành trình đặc biệt để trở thành một đô thị lớn, năng động, giữ vai trò đầu tàu kinh tế cả nước như hiện nay.
Với ông Phạm Chánh Trực - nguyên Phó ban Kinh tế Trung ương, nguyên Phó Bí thư thường trực Thành ủy, nguyên Chủ tịch HĐND TPHCM, những bài học về đổi mới không chỉ được nhìn từ các nghị quyết mà còn bắt nguồn từ những năm tháng thành phố đối mặt với thiếu thốn, người dân phải ăn cơm độn bo bo, khoai sắn, nhà máy thiếu nguyên liệu và công nhân nhiều nơi phải làm việc cầm chừng.
Ông Phạm Chánh Trực sinh năm 1939, quê ở xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long cũ
Những năm tháng tìm đường thoát khó
Theo ông Trực, thành tựu lớn nhất của đất nước sau 51 năm thống nhất là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
"Đường lối Đổi mới có điểm xuất phát quan trọng từ tính năng động, sáng tạo của TPHCM và một số tỉnh Nam Bộ trong những năm sau chiến tranh" - ông nhận định.
Nhớ lại những ngày đầu sau giải phóng, ông Trực cho biết niềm vui thống nhất nhanh chóng nhường chỗ cho khó khăn: thất nghiệp tràn lan, nguy cơ đói nghèo, các nhà máy thiếu vật tư, nguyên liệu, xăng dầu. Có thời điểm, nhiều nhà máy phải sản xuất cầm chừng, công nhân chỉ làm việc vài ngày trong tuần và hưởng lương ở mức nhất định.
Trước những sức ép này, lãnh đạo TPHCM khi đó, tiêu biểu là Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt (sau này là Thủ tướng Chính phủ), đã trực tiếp xuống các nhà máy, tìm hiểu những vướng mắc trong sản xuất.
“Đồng chí Võ Văn Kiệt gặp từ giám đốc, kỹ sư đến công nhân, lắng nghe thực tế để tìm cách tháo gỡ, duy trì sản xuất. Có lần, trong giờ ăn, đồng chí chứng kiến khẩu phần của nhiều công nhân chỉ là cơm độn, ít rau muống hoặc vài lát dưa nên rất xúc động. Nhưng khi đồng chí hỏi: "Nếu có thêm nguyên liệu, anh chị em có sẵn sàng làm thêm ca không" thì công nhân đều phấn khởi và đồng ý ngay” - ông Trực kể.
Bí thư Thành ủy TP.HCM Võ Văn Kiệt trao cờ truyền thống cho Bí thư Thành đoàn TPHCM Phạm Chánh Trực (phải) trong lễ ra quân Thanh niên Xung phong năm 1976. Ảnh: Tư liệu/TTXVN
Từ thực tiễn ấy, các kế hoạch B, C ra đời bên cạnh kế hoạch A của Nhà nước, tạo nên thế "xé rào", "bung ra", lan tỏa trong nhiều ngành và một số địa phương.
"Chính quá trình thực tiễn đó góp phần hình thành tư duy đổi mới. Chúng ta nhận ra rằng trong điều kiện mới không thể chỉ duy trì cơ chế kế hoạch tập trung mà phải vận dụng kinh tế thị trường, đồng thời định hướng nền kinh tế phát triển gắn với mục tiêu xã hội" - ông nói.
Theo ông Trực, nhân dân TPHCM, bằng sự năng động, sáng tạo đã góp phần quan trọng giúp cả nước vượt qua khó khăn, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
“Hành trình 10 năm đầu sau giải phóng là một giai đoạn rất khó khăn, nhưng Thành ủy vẫn phải bình tĩnh để từng bước vượt qua...” - ông chia sẻ.
Từ khu chế xuất đến khu công nghệ cao
Giữ vai trò đầu tàu kinh tế, TPHCM liên tục tìm kiếm những mô hình mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ đầu những năm 1990, các khu chế xuất, khu công nghiệp và đặc biệt là khu công nghệ cao lần lượt ra đời.
“Đây là những bước đi mạnh dạn trong việc tiếp cận khoa học - công nghệ tiên tiến của thế giới trong điều kiện một đất nước đang phát triển" - ông Trực nhìn nhận.
Sau 40 năm Đổi mới, ông đánh giá TPHCM và cả nước đã đạt những bước tiến vượt bậc. GDP bình quân đầu người của Việt Nam từ khoảng 100 USD vào năm 1990 lên hơn 5.000 USD hiện nay, tính riêng TPHCM là từ 100 USD lên 8.000 USD/người.
“Đây là một khoảng cách rất lớn, có thể nói là một bước phát triển vượt bậc, thậm chí là một kỳ tích" - ông nhận định.
Cầu Phú Mỹ - trục nối huyết mạch giữa Khu chế xuất Tân Thuận và Khu Công nghệ cao. Ảnh: Nguyễn Huế
Tuy nhiên, ông cũng cho rằng còn nhiều tiềm lực vẫn chưa được phát huy, đặc biệt là năng lực sản xuất. Theo ông, sản xuất không chỉ tạo ra sản phẩm mà còn kéo theo hàng loạt dịch vụ, từ nghiên cứu, thiết kế, nguyên liệu, máy móc, công nghệ đến vận tải, kho bãi, quảng cáo, xuất nhập khẩu...
"Như vậy, một hoạt động sản xuất có thể tạo ra một cấp số nhân những việc làm thương mại dịch vụ. Ngược lại, nếu chỉ thúc đẩy thương mại, dịch vụ thì phần lớn chỉ là mua đi bán lại, khó tạo ra nhiều giá trị mới" - ông nói.
Một vấn đề ông đặc biệt lưu ý là công nghiệp phụ thuộc vào gia công và khu vực đầu tư nước ngoài. Ông Trực cho rằng việc thu hút đầu tư nước ngoài là cần thiết nhưng phải từng bước nâng cao năng lực sản xuất trong nước, tiến lên những khâu có giá trị gia tăng cao hơn và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ.
Theo ông, phần lớn doanh nghiệp hiện vẫn ở quy mô nhỏ và siêu nhỏ, khó trở thành động lực lớn cho năng suất và tăng trưởng. Muốn nền kinh tế phát triển nhanh cần từng bước đưa khu vực sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn, cả tiểu công nghiệp và nông nghiệp.
Ông đồng thời cho rằng Nhà nước cần chủ động tổ chức lại sản xuất thông qua những mô hình phù hợp như công ty cổ phần, hợp tác xã.
Trở lại câu chuyện cơ chế đặc thù của TPHCM, ông nhận định "điều quan trọng nhất là thành phố phải được tăng quyền tự chủ, trước hết là tự chủ về kinh tế, tài chính và tổ chức sản xuất" - ông nói.
Ông Phạm Chánh Trực kết nạp Đảng năm 21 tuổi. Hơn 65 năm nhìn lại, ông nghĩ: Lúc đất nước còn chiến tranh, mình đã thề nguyện phục vụ nhân dân, vào Đảng là để cứu nước, cứu dân. Khi đất nước độc lập, hòa bình rồi thì nhiệm vụ của mình là làm sao để nhân dân được ấm no, hạnh phúc
Ông đặc biệt nhấn mạnh tự chủ tài chính. "Nếu tạo điều kiện để lại tỷ lệ điều tiết nguồn thu hợp lý cho địa phương phát triển mạnh, nguồn thu có thể tăng lên gấp hai, thậm chí gấp ba lần. Khi đó, phần đóng góp cho cả nước sẽ lớn hơn nhiều”.
Thành phố cần có không gian để chủ động tổ chức sản xuất, thành lập doanh nghiệp các thành phần, phát triển kinh tế hợp tác xã, huy động nguồn lực và chịu trách nhiệm về hiệu quả. Lợi nhuận thì tự hưởng và đóng góp cho cả nước, rủi ro thì tự chịu trách nhiệm.
Các cơ chế mới, theo ông, nên được cho phép thực hiện thí điểm, rồi đánh giá và nhân rộng nếu hiệu quả.
Chiến tranh đã lùi xa, những năm tháng "xé rào", "bung ra" cũng trở thành một phần lịch sử đổi mới. Nhưng với ông Phạm Chánh Trực, tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo và khát vọng cống hiến vẫn là câu chuyện của hôm nay.
"Phải học trong dân, bám sát dân và thực sự lắng nghe dân"
Người cán bộ lão thành dành nhiều suy tư cho đội ngũ cán bộ hiện nay. Theo ông, hoàn cảnh hôm nay đã khác thời chiến, nhưng trách nhiệm phục vụ nhân dân vẫn không thay đổi. Đã là công chức, là đảng viên thì phải xác định rõ mình làm việc vì nhân dân, vì xã hội.
Ông cho rằng người cán bộ phải học lý luận, đi vào thực tiễn và quan trọng nhất là phải học trong dân, bám sát dân và thực sự lắng nghe dân. Gần dân phải đi cùng với giải quyết vấn đề của dân, ông nói và nhấn mạnh "hiểu dân là điều rất quan trọng, nhưng hiểu mà không xử lý được thì vẫn chưa đủ".
Ông cũng mong người trẻ tự giác học tập, xác định lý tưởng vững vàng: "Việc học phải xuất phát từ sự tự giác, hiểu rõ vì sao mình lựa chọn con đường đó chứ không phải học vì bị ép buộc. Và tất cả những tri thức và năng lực ấy cuối cùng phải được sử dụng để phục vụ đất nước, chứ không chỉ phục vụ riêng bản thân mình".
Ở tuổi 87, ông Phạm Chánh Trực vẫn nhớ rõ những năm tháng tuổi thơ trong vùng căn cứ, dạy chữ cho bà con khi ông mới 9 tuổi cho đến thời gian hoạt động bí mật giữa lòng Sài Gòn, hai lần bị bắt và vượt ngục sinh tử.