Khi câu chuyện “được mùa mất giá” vẫn là nỗi ám ảnh của nhiều vùng nông thôn, Đề án Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập, phân tích và dự báo thị trường nông sản được xem như một lời giải căn cơ.

Tại tỉnh Lào Cai, Đề án này đang đi vào đời sống sản xuất giúp người dân ngày càng chủ động sản xuất, điều tiết cung – cầu và định hình con đường phát triển nông nghiệp.

Trên cánh đồng hữu cơ của Hợp tác xã Nông nghiệp Trung Thành, xã Xuân Ái, những cuốn sổ tay ghi chép thủ công dần được thay bằng nhật ký điện tử. Mỗi lứa cà chua, mỗi mẻ phân hữu cơ đều được cập nhật thời gian, sản lượng, chi phí đầu vào. Dữ liệu ấy không dừng ở quản lý nội bộ, mà còn được sử dụng để tính toán kế hoạch bán hàng, lựa chọn thời điểm đưa sản phẩm ra thị trường. 

Theo đại diện hợp tác xã, khi nắm được xu hướng tiêu thụ và giá cả theo từng giai đoạn, việc quyết định mở rộng hay thu hẹp diện tích đã bớt nhiều rủi ro.

Đó là cách dữ liệu thị trường bắt đầu “đi ngược” về ruộng đồng. Thay vì sản xuất xong mới lo đầu ra, người nông dân được tiếp cận thông tin về nhu cầu, tiêu chuẩn và giá cả ngay từ đầu vụ. 

Ở quy mô lớn hơn, tỉnh Lào Cai đang từng bước xây dựng bản đồ dữ liệu nông nghiệp. Hơn 520ha sản xuất công nghệ cao tại các địa phương như Bắc Hà, Sa Pa, Y Tý hay Mường Hum đã được tích hợp hệ thống nhà màng, nhà lưới, tưới tự động.

Các cảm biến IoT liên tục thu thập thông tin về nhiệt độ, độ ẩm, sinh trưởng cây trồng, truyền dữ liệu về trung tâm để phân tích. Khi điều kiện thời tiết bất lợi xuất hiện, cảnh báo được gửi sớm, giúp người sản xuất điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, hạn chế thiệt hại và tránh đứt gãy nguồn cung.

W-nông sản.jpg
Lào Cai đang từng bước xây dựng bản đồ dữ liệu nông nghiệp.

Một trong những điểm sáng là vùng chè hữu cơ hơn 2.100ha được giám sát bằng công nghệ GPS vệ tinh. Dữ liệu không gian kết hợp với nhật ký canh tác điện tử tạo nên hồ sơ đầy đủ cho từng lô chè. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể dự báo sản lượng theo mùa vụ, chủ động ký kết hợp đồng xuất khẩu với các thị trường yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc. Thông tin thị trường từ đối tác nước ngoài cũng được phản hồi ngược lại vùng trồng, giúp điều chỉnh quy trình sản xuất theo chuẩn mực mới.

Câu chuyện tương tự diễn ra ở các vùng chuối tại Trịnh Tường, Bản Lầu, Mường Khương. Hệ thống mã số vùng trồng và mã QR giúp toàn bộ dữ liệu về diện tích, năng suất, thời điểm thu hoạch được cập nhật tập trung. Khi thị trường Trung Quốc thay đổi yêu cầu nhập khẩu, cơ quan quản lý và doanh nghiệp nhanh chóng phân tích dữ liệu để điều tiết sản lượng, hạn chế tình trạng ùn ứ cửa khẩu.

Ứng dụng công nghệ thông tin tại Lào Cai còn thể hiện rõ trong khâu dự báo. Các trạm quan trắc tự động tại vùng lúa, chè, cây ăn quả tại đây cũng thường xuyên cập nhật dữ liệu sâu bệnh và thời tiết. Thông tin được phân tích để đưa ra cảnh báo sớm, giúp người dân điều chỉnh lịch sản xuất, giảm thiểu thiệt hại và ổn định nguồn cung. Việc sử dụng drone trong phun thuốc bảo vệ thực vật cũng tạo ra dữ liệu chính xác về lượng vật tư đầu vào, phục vụ tính toán chi phí và giá thành sản phẩm.

Dù vậy, chuyển đổi sang sản xuất dựa trên dữ liệu vẫn đối mặt nhiều thách thức. Chi phí đầu tư hạ tầng số còn cao, kỹ năng phân tích và khai thác thông tin của một bộ phận người dân chưa đồng đều. Do đó, bên cạnh triển khai công nghệ, tỉnh Lào Cai cũng chú trọng đào tạo, hướng dẫn người sản xuất tiếp cận dữ liệu một cách chuyên nghiệp hơn để vận hành các mô hình hiệu quả hơn.