Thị trường bưu chính Việt Nam đã phát triển mạnh sau hơn 15 năm thực hiện Luật Bưu chính năm 2010. Từ 40 doanh nghiệp vào năm 2010, thị trường hiện có khoảng 710 đơn vị; sản lượng bưu gửi tăng từ 310 triệu lên hơn 5 tỷ bưu gửi mỗi năm.

Quy mô thị trường và phương thức cung ứng dịch vụ thay đổi nhanh chóng đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện gia nhập thị trường, quản lý an toàn bưu gửi đến phân định phạm vi điều chỉnh giữa các lĩnh vực có hoạt động giao nhận tương đồng.

Tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 30/9 của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN), đại diện Vụ Bưu chính đã công bố những điểm mới của dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi), trong đó đáng chú ý là định danh rõ bản chất dịch vụ bưu chính, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tăng cường quản lý dựa trên dữ liệu số.

Buu chinh.jpg
Mỗi bưu gửi phải được định danh và có khả năng theo dõi, truy vết trong quá trình cung cấp dịch vụ. Ảnh: VNPT

Các đặc trưng cơ bản để xác định dịch vụ bưu chính
Một trong những nội dung quan trọng của dự thảo là làm rõ tiêu chí phân biệt dịch vụ bưu chính với hoạt động vận tải, kho bãi và logistics độc lập. Theo khoản 3 Điều 3 và Điều 5 dự thảo Luật, việc xác định một hoạt động có thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bưu chính hay không phải căn cứ vào bản chất và phương thức tổ chức cung cấp dịch vụ, thay vì chỉ dựa trên tên gọi hoặc mô hình kinh doanh.

Theo đó, dịch vụ bưu chính được tổ chức trên mạng bưu chính, bao gồm các công đoạn chấp nhận, chia chọn, vận chuyển và phát bưu gửi. Hoạt động này có những đặc trưng nhận diện cơ bản.

Thứ nhất, dịch vụ được cung cấp trên mạng bưu chính, với tính liên tục và cam kết chất lượng dịch vụ. Đây là yếu tố phản ánh phương thức tổ chức cung ứng dịch vụ, thay vì chỉ thực hiện một công đoạn vận chuyển hoặc giao nhận riêng lẻ.

Thứ hai, từng bưu gửi được xử lý riêng biệt, có mã định danh để theo dõi và bảo đảm khả năng truy vết trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ. Việc quản lý từng bưu gửi giúp xác định hành trình, kiểm soát quá trình xử lý và hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ.

Thứ ba, bưu gửi được phát đến địa chỉ hoặc địa điểm nhận theo thỏa thuận. Đây là khâu hoàn tất quy trình cung cấp dịch vụ, gắn với việc giao hàng đến người nhận cuối cùng, thay vì chỉ vận chuyển hàng hóa giữa hai đầu mối.

Các đặc trưng này cần được xem xét đồng thời. Việc một kho hàng sử dụng mã vạch để quản lý hàng hóa hoặc một doanh nghiệp vận tải cung cấp ứng dụng theo dõi hành trình không đồng nghĩa hoạt động đó đương nhiên trở thành dịch vụ bưu chính.

Điểm cốt lõi là hoạt động có được tổ chức trên mạng bưu chính và đáp ứng đầy đủ các đặc trưng của dịch vụ bưu chính theo Điều 5 hay không. Định danh, theo dõi và truy vết là những tiêu chí quan trọng, nhưng không phải tiêu chí duy nhất để xác định phạm vi điều chỉnh của Luật.

Không đánh đồng bưu chính với vận tải và logistics
Việc phân định rõ phạm vi điều chỉnh có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao nhận, vận chuyển và hoàn tất đơn hàng trên cùng một chuỗi cung ứng.

Theo hướng tiếp cận của dự thảo, hoạt động vận tải thông thường chủ yếu thực hiện việc di chuyển hàng hóa từ điểm đi đến điểm đến. Dịch vụ logistics độc lập có thể bao gồm việc tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc có liên quan đến hàng hóa như lưu kho, lưu bãi, bốc xếp…

Trong khi đó, dịch vụ bưu chính được xác định trên cơ sở các đặc trưng: được tổ chức cung cấp trên mạng bưu chính; bưu gửi được xử lý riêng lẻ, có mã định danh, bảo đảm khả năng theo dõi, truy vết trong quá trình cung cấp dịch vụ; được phát đến người nhận theo địa chỉ hoặc địa điểm đã thỏa thuận.

Vì vậy, các hoạt động vận tải, kho bãi và logistics độc lập không đáp ứng các đặc trưng của dịch vụ bưu chính sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bưu chính theo khoản 4 Điều 5 dự thảo.

Cách tiếp cận này nhằm hạn chế tình trạng chồng chéo trong quản lý chuyên ngành, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho doanh nghiệp lựa chọn mô hình kinh doanh và xác định nghĩa vụ tuân thủ.

Ranh giới giữa bưu chính và thương mại điện tử cũng được xác định trên cơ sở bản chất và đặc trưng của từng hoạt động. Thương mại điện tử là hoạt động mua bán hàng hóa trên môi trường điện tử; còn bưu chính là hoạt động chấp nhận, chia chọn, vận chuyển và phát bưu gửi thông qua mạng bưu chính, với các đặc trưng về xử lý riêng lẻ, định danh, theo dõi và truy vết bưu gửi. Trong quá trình thực hiện giao dịch thương mại điện tử, việc giao hàng có thể được thực hiện thông qua dịch vụ bưu chính hoặc các phương thức vận chuyển, giao nhận khác để hoàn tất đơn hàng.

Do đó, những mô hình kinh doanh như chuyển phát nhanh, giao hàng tiết kiệm không tự động được xếp vào một phạm vi quản lý chỉ dựa trên tên gọi. Nếu hoạt động được tổ chức trên mạng bưu chính và đáp ứng các đặc trưng tại Điều 5, hoạt động đó thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Bưu chính. Ngược lại, nếu chỉ thực hiện vận chuyển hoặc giao nhận từ điểm này đến điểm khác mà không đáp ứng các đặc trưng nói trên, hoạt động đó không mặc nhiên là dịch vụ bưu chính.

Tiếp thu ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc làm rõ ranh giới giữa dịch vụ bưu chính với vận tải, logistics và các hoạt động giao nhận phục vụ thương mại điện tử, cơ quan chủ trì soạn thảo đã rà soát, chỉnh lý các quy định liên quan theo hướng xác định dịch vụ dựa trên bản chất hoạt động và phương thức tổ chức cung cấp, thay vì tên gọi của doanh nghiệp, mô hình kinh doanh.

Số hóa quản lý, tăng khả năng truy vết bưu gửi
Với sản lượng hơn 5 tỷ bưu gửi mỗi năm, phương thức kiểm tra thủ công, đồng loạt khó đáp ứng yêu cầu quản lý cả về quy mô lẫn tốc độ xử lý. Dự thảo vì vậy định hướng chuyển sang quản lý dựa trên cơ sở dữ liệu số, gắn mã định danh, theo dõi hành trình và phân tầng rủi ro.

Theo định hướng này, mỗi bưu gửi phải được định danh và có khả năng theo dõi, truy vết trong quá trình cung cấp dịch vụ. Đây vừa là yêu cầu phục vụ vận hành, nâng cao chất lượng chuyển phát, vừa là công cụ hỗ trợ phát hiện và ngăn chặn việc lợi dụng mạng bưu chính để vận chuyển hàng lậu, hàng cấm, vũ khí, vật liệu nổ hoặc công cụ hỗ trợ.

Dự thảo cũng đặt ra trách nhiệm thu thập, lưu trữ dữ liệu về bưu gửi và quá trình cung cấp dịch vụ, bảo đảm khả năng định danh, theo dõi và truy vết bưu gửi. Việc quản lý, khai thác và cung cấp dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân và an ninh mạng.

Cụ thể, Điều 36 đến Điều 39 dự thảo quy định việc tạo lập, thu thập, sử dụng, kết nối, cung cấp, lưu trữ và bảo vệ dữ liệu bưu chính. Điều 41 quy định về định danh, truy vết bưu gửi; khoản 1 Điều 44 quy định trách nhiệm thu thập, lưu trữ thông tin người gửi của doanh nghiệp bưu chính.

Cách thiết kế này nhằm tránh quy định trùng lặp với pháp luật liên quan, đồng thời bảo đảm có cơ sở pháp lý cho cho việc quản lý, giám sát và bảo đảm an toàn, an ninh trong hoạt động bưu chính.

Trong quá trình xây dựng dự thảo, cơ quan chủ trì soạn thảo cho biết đã tham khảo kinh nghiệm của Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU), Liên minh châu Âu (EU), Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật Bản, Singapore và Australia…

Với những thay đổi này, dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi) hướng tới một khuôn khổ quản lý phù hợp hơn với phát triển của thị trường bưu chính và các mô hình cung cấp dịch vụ mới. Trong đó, việc xác định đúng bản chất dịch vụ, đơn giản hóa thủ tục gia nhập thị trường và tăng cường quản lý bằng dữ liệu được kỳ vọng vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới và phát triển.