Nghệ thuật biểu diễn là sự thăng hoa của một tập thể, từ biên đạo, đạo diễn, nhạc sĩ đến từng diễn viên sải bước trên sân khấu. Thế nhưng, đằng sau những tràng pháo tay và ánh đèn lộng lẫy, nước mắt của nghệ sĩ vẫn rơi.
Lời tòa soạn
Đằng sau ánh hào quang sân khấu là mồ hôi, nước mắt và cả sự chật vật mưu sinh của nhiều nghệ sĩ do cơ chế thù lao cào bằng, lỗi thời. Nhằm tháo gỡ những nút thắt này, Nghị định 287/2026/NĐ-CP vừa ra đời mang theo điểm sáng đột phá về "tiền bản quyền khuyến khích", cho phép người sáng tạo được chia sẻ tối đa 10% lợi nhuận từ chính tác phẩm của mình.
Để có thêm những góc nhìn toàn cảnh về bước ngoặt pháp lý, Báo VietNamNet thực hiện loạt bài: Cơ chế mới về tiền bản quyền nghệ thuật - Cởi trói để thăng hoa, phân tích những cơ hội và thách thức nhằm đưa nghệ thuật biểu diễn Việt Nam thực sự bước vào quỹ đạo của nền công nghiệp văn hóa.
Nghệ thuật biểu diễn là sự thăng hoa của một tập thể, từ biên đạo, đạo diễn, nhạc sĩ đến từng diễn viên sải bước trên sân khấu. Thế nhưng, đằng sau những tràng pháo tay và ánh đèn lộng lẫy, nhiều nghệ sĩ vẫn đang chật vật với bài toán mưu sinh. Theo Nghị định 21/2015/NĐ-CP, việc chi trả thù lao từ ngân sách nhà nước vẫn nặng tính "bình quân". Những giọt mồ hôi đổ xuống trên sàn tập xiếc hay sự hao tâm tổn trí cho một vở ballet, opera, giao hưởng đồ sộ dường như trong một thời gian dài chưa tương xứng với mức độ cống hiến.
NSƯT Đàm Hàn Giang dạy học sinh tập múa.
Đổ máu trên sàn tập
Được gọi là "hoàng tử ballet", nghệ sĩ múa Đàm Hàn Giang du học và tốt nghiệp Học viện Hong Kong (Trung Quốc) vào năm 2008. Từ đó đến nay anh trở về hoạt động nghệ thuật trong nước. Đàm Hàn Giang là một trong ít nghệ sĩ thành danh với nghệ thuật múa ballet. Năm 2016, anh trở thành một trong những NSƯT trẻ nhất Việt Nam. Anh từng giữ vị trí múa chính (solist) tại Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam và hiện công tác tại Học viện Múa Việt Nam.
Thành công từ sớm nhưng với NSƯT Đàm Hàn Giang, việc theo đuổi nghề này không hề dễ dàng: "Chấn thương là cơm bữa. Tuổi thọ nghề múa ballet rất ngắn. Ngoài 30 tuổi, xương khớp đã bắt đầu biểu tình. Chúng tôi vắt kiệt thanh xuân, đánh đổi bằng máu và nước mắt để cống hiến những tác phẩm đỉnh cao cho khán giả".
Để đi được bằng hai đầu ngón chân, các vũ công nhiều lần rướm máu, thậm chí bị chai.
Tương tự, NSƯT Lô Thúy theo nghề xiếc từ khi 11 tuổi, đến nay đã gặt hái được nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. Thế nhưng, sự khắc nghiệt của nghệ thuật hàn lâm và nghệ thuật đặc thù dường như đang tỷ lệ nghịch với mức thù lao mà các nghệ sĩ nhận được. Theo khung bồi dưỡng tập luyện và biểu diễn được quy định trong các văn bản cũ, thù lao cho mỗi đêm diễn của một diễn viên múa chính hay một nghệ sĩ xiếc nhào lộn trên không đôi khi chỉ dừng ở mức vài chục nghìn đồng. Khoản tiền này thậm chí không đủ để họ chi trả cho một buổi vật lý trị liệu phục hồi cơ bắp, chưa nói đến việc tái tạo sức lao động hay chăm lo cho gia đình.
Các loại hình nghệ thuật như xiếc, ballet... trên sân khấu có đặc thù là không thể làm nháp. Ảnh: Liên đoàn Xiếc Việt Nam
Nghệ thuật xiếc lại càng là một câu chuyện xót xa hơn. NSND Tống Toàn Thắng - Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam chia sẻ: "Các loại hình nghệ thuật như xiếc, ballet hoặc những diễn xướng truyền thống thực sự trên sân khấu có đặc thù là không thể làm nháp. Từ phong cách đến vũ đạo, họ bắt buộc phải làm thật.
Ví dụ, một ca sĩ lên sân khấu ráp chương trình, họ chỉ chạy sơ để nháp âm thanh, ánh sáng. Trong khi đó, sức lực nghệ sĩ xiếc bỏ ra khi chạy chương trình gần như tương đương một buổi biểu diễn thật. Nghị định cũ áp dụng mức bồi dưỡng biểu diễn là 200 nghìn đồng/buổi, tập luyện 80 nghìn đồng/buổi là rất thấp so với mặt bằng xã hội.
Xiếc là nghệ thuật của sự mạo hiểm. Một cú đu người trên không ở độ cao hàng chục mét nếu trượt tay có khi ảnh hưởng sinh mạng hoặc tàn phế vĩnh viễn".
Nghệ thuật biểu diễn, đặc biệt là các loại hình hàn lâm như giao hưởng, opera, kịch múa hay các loại hình đòi hỏi khổ luyện như xiếc không thể sản xuất hàng loạt hay "ăn xổi" như một số sản phẩm giải trí thương mại. Quá trình thai nghén một vở diễn kéo dài, tiêu tốn rất nhiều chất xám và thể lực. Nhưng khi đưa vào thanh toán, thù lao lại bị cào bằng, khiến những người cống hiến nhiều nhất cảm thấy chạnh lòng.
Nghị định 21/2015: Chiếc áo chật chội
Những bất cập trong việc chi trả thù lao không phải do các đơn vị nghệ thuật cố tình "chèn ép" nghệ sĩ mà bắt nguồn từ những vướng mắc của hệ thống văn bản pháp lý. Suốt 1 thập kỷ qua, Nghị định 21/2015/NĐ-CP quy định về nhuận bút, thù lao đối với tác phẩm điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, sân khấu và các loại hình nghệ thuật biểu diễn khác đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của nó.
NSND Tống Toàn Thắng bày tỏ: "Thực ra, bài toán tìm nguồn kinh phí để mời những người tài năng về dàn dựng các vở diễn tầm cỡ trước đây rất nan giải vì các đơn vị nhà nước bị vướng định mức chi trả.
Chúng tôi là đơn vị công lập, mọi khoản chi tiêu đều phải bám sát định mức ngân sách nhà nước. Có những đạo diễn giỏi, biên đạo xuất sắc từ bên ngoài, chúng tôi muốn mời về dàn dựng nhưng khi đưa bảng báo giá theo khung của Nghị định 21, họ từ chối ngay vì quá thấp. Còn với anh em nghệ sĩ trong biên chế, có những người đóng vai phụ nhưng tập luyện, biểu diễn những tiết mục rất khó và khổ, muốn thưởng thêm hay trả thù lao cao hơn mức quy định cũng không thể làm được vì vướng trần ngân sách. Ngược lại, các đơn vị tư nhân, công ty tổ chức sự kiện lớn lại có đủ tiền để mời người nổi tiếng. Điều này tạo ra sự cạnh tranh thiếu bình đẳng".
Khung nhuận bút, thù lao được chia theo các hạng mức với tỷ lệ phần trăm tính trên mức lương cơ sở. Mặc dù lương cơ sở có tăng qua các năm nhưng tỷ lệ phần trăm này vẫn là một rào cản quá lớn so với sự vận động của thị trường nghệ thuật. Một vở diễn được đầu tư vài tỷ đồng từ ngân sách nhưng tiền kịch bản cho tác giả, tiền dàn dựng cho đạo diễn hay thù lao cho hàng trăm diễn viên tham gia lại bị đóng khung trong một hạn mức khiêm tốn.
Điều này dẫn đến hệ lụy buồn. Các đơn vị nghệ thuật công lập ngày càng khó giữ chân nhân tài. Nghệ sĩ giỏi, có tên tuổi buộc phải "chân trong chân ngoài", chạy show bên ngoài để kiếm sống, làm giảm đi sự toàn tâm toàn ý cho nghệ thuật đỉnh cao của nhà nước.
Nỗi buồn của nghệ sĩ sân khấu không chỉ dừng lại ở tờ phiếu nhận thù lao eo hẹp sau mỗi đêm diễn mà còn nằm ở những khoảng trống mênh mông trong vấn đề bảo vệ bản quyền tác giả và quyền liên quan.
Trong kỷ nguyên số, một tác phẩm sân khấu không chỉ tồn tại trong không gian của nhà hát. Nó có thể được ghi hình, phát sóng trên truyền hình hoặc cắt ghép thành vô số video ngắn phát tán trên YouTube, TikTok, Facebook. Thế nhưng, việc chia sẻ quyền lợi giữa các bên liên quan (tác giả kịch bản, đạo diễn, biên đạo múa, người biểu diễn, nhạc sĩ...) lại chưa được rạch ròi.
Bên cạnh đó, "tác phẩm phái sinh" trong nghệ thuật biểu diễn thời gian qua cũng gây nhiều tranh cãi. Một kịch bản sân khấu được người khác lấy ý tưởng chuyển thể thành phim sitcom hay một điệu múa độc lập được các đoàn nghệ thuật địa phương "xào nấu", biểu diễn lại trên các nền tảng số hóa đều đụng chạm đến quyền tài sản của tác giả gốc.
Nghệ sĩ biểu diễn vốn là những người ở tuyến đầu đưa tác phẩm đến với công chúng, lại thường xuyên ở thế yếu khi đàm phán hợp đồng. Do tâm lý nể nang, trọng tình, đa số các nghệ sĩ sân khấu hiện nay chỉ ký những hợp đồng biểu diễn mang tính chất nhận thù lao một lần. Họ chưa có thói quen và cũng chưa có cơ chế để đòi hỏi tiền bản quyền mỗi khi hình ảnh, giọng hát, tiết mục biểu diễn của mình được phát lại ở các nền tảng khác.
Những giọt nước mắt rơi sau rèm nhung, sự chật vật của các nhà hát công lập và những lỗ hổng trong việc thực thi bản quyền đã tạo ra một lực cản khổng lồ đối với sự phát triển của công nghiệp văn hóa tại Việt Nam. Và sự ra đời của Nghị định số 287/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ thay đổi cách làm của các đơn vị nghệ thuật nhà nước, trong đó, điểm sáng nhất mang tên "Tiền bản quyền khuyến khích".
Bài 2: NSND Xuân Bắc nói về bước ngoặt lịch sử với người làm nghệ thuật