Trên những cánh đồng và trang trại của Nghệ An hôm nay, dữ liệu đang được tạo ra mỗi ngày. Thay cho sổ ghi chép thủ công, nhiều nông dân đã sử dụng phần mềm quản lý, camera giám sát, nhật ký điện tử để theo dõi cây trồng, vật nuôi. Dữ liệu trở thành công cụ giúp người làm nông nhìn rõ hơn tình trạng sản xuất, thay vì phụ thuộc vào kinh nghiệm cảm tính.

Tại trang trại cây ăn quả Từ Hạnh, xã Quỳnh Tam, ông Đàm Duy Từ đã ứng dụng quản lý sản xuất trên hạ tầng số cho toàn bộ 8 ha cây ăn quả từ năm 2017. Hệ thống camera kết hợp phần mềm quản lý giúp theo dõi sinh trưởng cây trồng theo từng giai đoạn. Mỗi lô sản phẩm đều có mã QR truy xuất nguồn gốc, ghi lại đầy đủ quy trình chăm sóc, thu hoạch.

W-nông san nghe an.png
Nông dân Nghệ An đã sử dụng phần mềm quản lý, camera giám sát, nhật ký điện tử để theo dõi tình trạng đất, cây trồng, vật nuôi.

Theo ông Từ, việc theo dõi màu lá, tốc độ sinh trưởng, thời điểm ra hoa trên ứng dụng điện thoại giúp người làm vườn điều chỉnh kỹ thuật kịp thời. Quyết định bón phân, cắt tỉa được đưa ra dựa trên dữ liệu cụ thể. Nhờ đó, chất lượng sản phẩm ổn định, tạo được niềm tin với thị trường tiêu thụ.

Ở lĩnh vực chăn nuôi, dữ liệu cũng phát huy vai trò tương tự. Tại xã Kim Liên, chị Vương Thị Khánh quản lý trang trại lợn bằng hệ thống phần mềm và camera giám sát. Từ giống, thức ăn, vệ sinh chuồng trại đến trọng lượng từng giai đoạn tiêm phòng đều được cập nhật. Khi xuất hiện dấu hiệu bất thường, dữ liệu giúp truy nguyên nhanh nguyên nhân và xử lý kịp thời.

Chị Khánh cho biết, việc quản lý bằng dữ liệu giúp kiểm soát đàn vật nuôi chặt chẽ hơn, đồng thời thuận lợi trong báo cáo, phối hợp với cán bộ kỹ thuật khi cần thiết. Dữ liệu sản xuất vì thế trở thành “hồ sơ sống” của từng đàn vật nuôi.

Cùng với đó, nhiều mô hình trồng rau, củ, quả tại Nghệ An đã ứng dụng công nghệ IoT, nhà màng, tưới tự động. Anh Nguyễn Văn Sơn, xã Lâm Thành đã quản lý toàn bộ quy trình trồng rau VietGAP trên điện thoại thông minh. Từ giống, chăm sóc đến các yếu tố ảnh hưởng sinh trưởng đều được ghi nhận, giúp giảm chi phí quản lý, tăng độ minh bạch và mở rộng khả năng kết nối thị trường.

Trở thành nền tảng dự báo và điều hành thị trường

Từ hàng nghìn dữ liệu nhỏ lẻ trên đồng ruộng, chuồng trại, một bức tranh tổng thể về sản xuất nông nghiệp Nghệ An đang dần được hình thành. Diện tích gieo trồng, thời điểm xuống giống, tiến độ sinh trưởng, sản lượng dự kiến của từng vùng được cập nhật, tổng hợp và phân tích.

Đối với cơ quan quản lý nhà nước, đây là nguồn thông tin quan trọng để đánh giá cung – cầu, xây dựng kịch bản điều hành sát thực tế. Khi nắm rõ sản lượng dự kiến, chính quyền có cơ sở khuyến cáo điều chỉnh cơ cấu cây trồng, bố trí mùa vụ hợp lý, hạn chế tình trạng sản xuất dồn dập dẫn đến dư thừa nông sản.

W-camera giám sát.png
Camera giám sát được lắp đặt trên đồng ruộng tại Nghệ An.

Thông qua hạ tầng số, người dân có thể tiếp cận lịch thời vụ, thông tin thị trường, giá cả và nhu cầu tiêu thụ. Việc bố trí sản xuất nhờ đó chủ động hơn, phù hợp với tín hiệu thị trường. Dữ liệu giúp rút ngắn khoảng cách giữa sản xuất và tiêu thụ, giảm độ trễ thông tin vốn là điểm yếu lâu nay của nông nghiệp.

Với doanh nghiệp và hợp tác xã, dữ liệu sản xuất là cơ sở để xây dựng kế hoạch thu mua, chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản. Khi sản lượng được dự báo sớm, doanh nghiệp chủ động chuẩn bị kho bãi, phương tiện, thị trường đầu ra. Hợp tác xã có căn cứ để đàm phán hợp đồng, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

Theo lãnh đạo xã Kim Liên, chính quyền địa phương đã đồng hành cùng người dân trong quá trình chuyển đổi số, tổ chức tập huấn, hướng dẫn đăng ký mã số vùng sản xuất, chuẩn hóa dữ liệu. Khi dữ liệu được quản lý thống nhất, việc kiểm soát chất lượng và kết nối thị trường trở nên thuận lợi hơn.

Trong bối cảnh thị trường ngày càng đòi hỏi sản phẩm sạch, minh bạch nguồn gốc, dữ liệu sản xuất được xem là “chứng minh thư” của nông sản. Đối với Nghệ An, ứng dụng công nghệ thông tin trong thu thập, phân tích và dự báo thị trường đang từng bước tạo nền tảng cho nền nông nghiệp hiện đại. Từ đó giúp tỉnh Nghệ An có thêm cơ sở để điều hành sản xuất hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nông sản. Khi dữ liệu trở thành tài sản chung, nông nghiệp địa phương có điều kiện phát triển bền vững, chủ động hội nhập thị trường.