Trong bối cảnh ấy, việc tiếp tục khẳng định vai trò của kinh tế nhà nước không phải là sự quay đầu, mà là một bài kiểm tra lớn về năng lực thể chế.

Câu hỏi cốt lõi là: doanh nghiệp nhà nước sẽ được tổ chức, giao việc và đánh giá như thế nào để thực sự dẫn dắt phát triển?

Nghị quyết 79 sử dụng hình ảnh “sếu đầu đàn” để nói về vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong một số lĩnh vực then chốt, chiến lược.

Tuy nhiên, TS Nguyễn Minh Thảo, Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế - Tài chính phân tích, nếu đã nói đến “đàn”, thì phải xác định rõ ai là “sếu”, đàn gồm những ai, và dẫn dắt bằng cách nào. “Sếu đầu đàn” không thể là một danh mục liệt kê dàn trải, bao phủ gần như toàn bộ nền kinh tế. Dẫn dắt không đồng nghĩa với có mặt ở khắp nơi.

Muốn dẫn dắt, phải chọn lọc. Chỉ nên chọn một số rất ít ngành, rất ít doanh nghiệp, nơi sự hiện diện của doanh nghiệp nhà nước là thật sự cần thiết và không thể thay thế. Nếu không làm rõ tiêu chí ấy, mô hình “đàn” rất dễ trượt sang một hướng khác: doanh nghiệp nhà nước lớn lên bằng phạm vi hành chính, chứ không phải bằng năng lực thị trường.

anh 5 605.jpg
Công trường thi công chân đế điện gió ngoài khơi của Petrovietnam tại Vũng Tàu, TP.HCM. Ảnh: VietNamNet

Điều đáng chú ý là Nghị quyết 79 không hề đặt kỳ vọng thấp. Đến năm 2030, mục tiêu là có khoảng 50 doanh nghiệp nhà nước nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, và 1–3 doanh nghiệp lọt Top 500 toàn cầu. Tầm nhìn đến năm 2045 còn tham vọng hơn, với 60 doanh nghiệp nhà nước trong Top 500 Đông Nam Á và 5 doanh nghiệp trong Top 500 thế giới.

Những con số này cho thấy, nghị quyết đặt kỳ vọng vươn lên rất cao. Và chính vì thế, câu hỏi về thể chế, về tư duy quản lý, về cách thức giao nhiệm vụ và về quyền tự chủ trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Tại đây xuất hiện rủi ro lớn mà TS Nguyễn Minh Thảo cảnh báo: nguy cơ sai lệch thị trường và chi phí xã hội tăng cao nếu không xác định rõ doanh nghiệp nào sáp nhập, doanh nghiệp nào phải thoái vốn, và thoái vốn thì đưa về đâu.

Nếu không phân định rõ ràng, doanh nghiệp nhà nước có thể mở rộng hoạt động sang những lĩnh vực mà khu vực tư nhân đang làm tốt, kéo theo cạnh tranh trực diện và trong một số trường hợp có thể lấn át nguồn lực.

Chi phí xã hội trong trường hợp này không hề trừu tượng. Đó là làm mất cơ hội đầu tư đối với doanh nghiệp tư nhân; là tín hiệu phân bổ vốn, đất đai, tín dụng có thể bị bóp méo; là nguồn lực công bị “khóa” trong những doanh nghiệp không còn phù hợp, trong khi khu vực năng động nhất của nền kinh tế không tiếp cận được.

Nguy cơ lớn nhất không phải là doanh nghiệp nhà nước yếu, mà là doanh nghiệp nhà nước to lên sai cách.

Vì vậy, câu chuyện sáp nhập – thoái vốn – tái cơ cấu không thể chỉ dừng ở định hướng. Doanh nghiệp nào phải sáp nhập? Doanh nghiệp nào cần rút lui khỏi thị trường? Thoái vốn thì đưa về SCIC, về địa phương hay về một thiết chế đầu tư vốn khác? Nếu những câu hỏi này không được trả lời bằng tiêu chí và quy trình cụ thể, mỗi đợt tái cơ cấu sẽ gần giống một vòng xoay hình thức.

Từ góc nhìn doanh nghiệp, theo TS Nguyễn Minh Thảo, điều họ quan tâm nhất khi đọc Nghị quyết 79 lại rất giản dị.

Thứ nhất là hạch toán rõ ràng nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ kinh doanh. Đây không phải là câu chuyện mới, nhưng là câu chuyện chưa được làm đúng nghĩa. Doanh nghiệp nhà nước lâu nay vừa làm nhiệm vụ chính trị, vừa hoạt động kinh doanh, nhưng lại bị đánh giá chung trong một bảng kết quả tổng hợp. Kết quả là chưa đánh giá được thực chất hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Nghị quyết 79 bổ sung yêu cầu phân tích, đánh giá chi phí – lợi ích xã hội của đầu tư từ nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế là một bước tiến về tư duy. Nhưng để tư duy ấy đi vào đời sống, hạch toán phải được tách bạch thực sự. Phần nào là nhiệm vụ chính trị thì phải được tính riêng, đánh giá riêng và có cơ chế tài chính đi kèm.

Thứ hai là quyền tự chủ và sự bình đẳng. Doanh nghiệp nhà nước không đòi hỏi đặc quyền, mà mong được áp dụng những thể chế mà khu vực tư nhân đang được hưởng, đặc biệt trong đầu tư và quản trị. Nhưng tự chủ không thể chỉ là khẩu hiệu. Nếu quyền đến đâu không rõ, ranh giới trách nhiệm không rõ, thì doanh nghiệp không dám làm – và cũng không ai dám chịu trách nhiệm.

Một điểm mới đáng chú ý khác của Nghị quyết 79 là yêu cầu bảo đảm đủ vốn khi Nhà nước giao nhiệm vụ, nhất là với các dự án, công trình trọng điểm quốc gia.

Tuy nhiên, câu hỏi then chốt, như TS Nguyễn Minh Thảo chỉ ra, vẫn là: Ai chịu trách nhiệm nếu một nhiệm vụ hoặc dự án thất bại vì không được cấp đủ vốn? Nếu trách nhiệm vẫn mơ hồ, thì nguyên tắc “giao nhiệm vụ phải giao vốn” sẽ khó đi vào thực tế.

Câu chuyện của EVN hay VNPT cho thấy rõ nghịch lý ấy. Giá điện là hàng hóa thiết yếu, bị kiểm soát chặt chẽ. Triển khai 5G là yêu cầu chiến lược. Nhưng nếu vừa giao nhiệm vụ, vừa khống chế giá, vừa không bảo đảm đủ vốn, thì mọi bài toán hạch toán đều đi vào ngõ cụt.

Một điểm nhấn khác là yêu cầu 100% tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng chuẩn quản trị theo thông lệ OECD, đồng thời tái cơ cấu toàn diện SCIC theo mô hình công ty, quỹ đầu tư vốn nhà nước. Khi đã đặt mục tiêu có doanh nghiệp nhà nước lọt Top 500 toàn cầu và quản trị theo chuẩn OECD, thì câu hỏi không còn là quyết tâm, mà là: cơ chế giao nhiệm vụ và chịu trách nhiệm hiện nay có cho phép doanh nghiệp vận hành đúng logic thị trường hay không.

Muốn như Temasek Holdings (Tập đoàn đầu tư tài chính của Singapore) hay SCIC (Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước) không thể chỉ nắm giữ vốn thụ động mà phải vận hành như một quỹ đầu tư thực sự. Và điều đó kéo theo một câu hỏi nhạy cảm nhưng không thể né tránh: liệu doanh nghiệp đầu tư vốn nhà nước có quyền từ chối nếu nhiệm vụ đó không đi kèm nguồn lực và hiệu quả rõ ràng hay không.

Phía sau tất cả là một thực tế rất “đời” mà TS Nguyễn Minh Thảo chia sẻ: hành vi của doanh nghiệp nhà nước được quyết định bởi rủi ro thể chế, không phải bởi khẩu hiệu cải cách. Trong môi trường mà quyền không rõ, trách nhiệm không rõ, rủi ro pháp lý thường trực thì lựa chọn an toàn nhất của nhiều doanh nghiệp không phải là đổi mới, mà là đứng yên.

Việc chuyển biến thực chất hay không trong 5–10 năm tới phụ thuộc hoàn toàn vào việc làm rõ nội hàm chính sách, cụ thể hóa tiêu chí sáp nhập – thoái vốn – đầu tư, xác định rõ trách nhiệm khi chính sách thất bại và thay đổi cách giao nhiệm vụ cho doanh nghiệp nhà nước.

Tựu chung lại, kinh tế nhà nước cần vượt qua độ trễ thể chế để từ đó dẫn dắt bằng chính năng lực của mình.