
Giữ vững vĩ mô là lằn ranh đỏ của nhiệm kỳ
Điều đọng lại rõ nhất từ phát biểu nhậm chức, trong báo cáo về kinh tế - xã hội đầu tiên trước Quốc hội, và đặc biệt là phát biểu của Thủ tướng tại Quốc hội sáng 10/4 là một trục tư duy rất mạch lạc: Giữ chắc nền tảng vĩ mô, tháo gỡ các điểm nghẽn của nguồn lực, khơi thông không gian phát triển mới và đặc biệt là cải cách thể chế,… để mở đường cho tăng trưởng cao.
Hay nói cách khác, tăng trưởng hai con số không phải bằng mệnh lệnh hành chính hay mở rộng đầu tư quá mức, mà dựa trên cải cách mạnh mẽ về thể chế, nâng cao năng suất, bằng giải phóng mọi nguồn lực xã hội, bằng khơi thông đầu tư tư nhân và những lĩnh vực ưu tiên, bằng đổi mới sáng tạo, bằng chất lượng nguồn nhân lực và bằng năng lực cạnh tranh thực chất của nền kinh tế.
Tất nhiên, hơn cả trục điều hành ấy là một tuyên bố của nhiệm kỳ: Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân trên 10%/năm giai đoạn 2026–2031 là “mệnh lệnh phát triển” để hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược của đất nước.
Cách đặt vấn đề này rất đáng chú ý. Tăng trưởng cao không còn chỉ là một chỉ tiêu kinh tế, mà đã trở thành yêu cầu phát triển quốc gia: Vượt bẫy thu nhập trung bình, mở rộng không gian cho doanh nghiệp nội địa, tạo thêm dư địa cho an sinh, giáo dục, khoa học công nghệ và nâng cao sức chống chịu trước biến động toàn cầu.
Nhưng chính ở đây cũng hiện lên phẩm chất điều hành quan trọng nhất của nhiệm kỳ mới: Khát vọng tăng trưởng rất cao nhưng không chấp nhận đánh đổi nền tảng ổn định.

Thông điệp của Thủ tướng rất rõ: “Kiên quyết không để xảy ra mất ổn định vĩ mô, khủng hoảng kinh tế trong mọi tình huống.
Thủ tướng cũng nói tại sáng ngày 10/4: “Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng nóng, tăng trưởng cao mà đánh đổi bằng sự bất ổn vĩ mô.”
Đây là lằn ranh đỏ cho toàn bộ chính sách điều hành.
Điều rất đáng chú ý là trong toàn bộ thông điệp đầu nhiệm kỳ, không thấy tín hiệu nào về việc nới tiền tệ bằng mệnh lệnh; không có yêu cầu hạ lãi suất theo kiểu hành chính; và đặc biệt là không có bóng dáng của tư duy chấp nhận lạm phát cao hơn để đổi lấy tăng trưởng ngắn hạn.
Đó là một lựa chọn rất tỉnh táo, tạo niềm tin cho thị trường.
Nó cho thấy mục tiêu tăng trưởng hai con số lần này không đi theo lối mòn cũ của bơm thêm tiền, ép giảm lãi suất hay mở rộng đầu tư bằng mọi giá. Nền tảng của tăng trưởng phải là niềm tin vào ổn định lạm phát, tỷ giá, lãi suất và khả năng dự báo chính sách.
Bởi trong bối cảnh thế giới còn đầy bất định, từ giá dầu, logistics, thuế quan cho tới đứt gãy chuỗi cung ứng, điều hành kinh tế trước hết phải giữ được ổn định vĩ mô như là nền tảng an toàn cho thị trường nảy nở. Khi doanh nghiệp còn tin vào sự ổn định của chính sách, họ mới dám đầu tư cho chu kỳ dài hơn.
Tăng trưởng cao từ mở thêm thị trường
Giữ được vĩ mô mới chỉ là điều kiện cần. Điều thị trường chờ đợi ở nhiệm kỳ này là một bước đi mạnh hơn: Mở thêm các thị trường mới và trả lại quyền vận động cho nguồn lực.
Ở đây, thông điệp cải cách thể chế trở nên đặc biệt rõ rằng trong hòa bình, xã hội không thể tiếp tục vận hành theo cơ chế mệnh lệnh hành chính. Kinh tế phải dựa vào những quy luật khách quan là cung – cầu, giá trị, cạnh tranh, lợi nhuận. Luật pháp phải trở thành công cụ tối cao để điều chỉnh hành vi, bảo vệ quyền sở hữu, tạo sân chơi công bằng cho mọi thành phần kinh tế.
Nói cách khác, muốn tăng trưởng cao bền vững, Việt Nam không chỉ cần thêm vốn, mà cần khơi thông thêm thị trường.
Trước hết phải là thị trường đất đai minh bạch hơn để đất không còn bị chôn trong các dự án treo. Bên cạnh đó thị trường vốn trung và dài hạn đủ chiều sâu để tiền nhàn rỗi trong xã hội chảy được vào sản xuất thay vì nằm bất động trong hệ thống ngân hàng.
Cùng với đó là thị trường khoa học công nghệ, dữ liệu và tài sản số, nơi sáng tạo được định giá bằng giá trị thật. Và không thể thiếu một thị trường lao động nơi người có kỹ năng cao được trả đúng giá trị, để năng suất trở thành động lực tăng trưởng thực chất.
Theo tính toán mà Thủ tướng đưa ra, tổng vốn đầu tư bình quân toàn xã hội cho 5 năm tới phải đạt khoảng 40% GDP, tương đương 38,5 triệu tỷ đồng, cao hơn rất nhiều so với mức khoảng 33% của nhiệm kỳ trước. Chỉ riêng con số ấy đã cho thấy áp lực huy động nguồn lực của nhiệm kỳ này lớn đến mức nào.
Ở phần vốn nhà nước, tổng đầu tư công dự kiến vượt 8 triệu tỷ đồng, trong khi nhiệm kỳ trước mới ở mức 2,87 triệu tỷ; riêng huy động từ ngân sách cũng phải lên tới 6,5 triệu tỷ, cao gấp 2,7 lần. Nhưng điều đáng chú ý hơn nằm ở phần còn lại: Khoảng 80% nguồn lực phải đến từ doanh nghiệp trong nước, đầu tư xã hội, vốn FDI và các dòng vốn gián tiếp quốc tế.
Điều đó có nghĩa, muốn đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10%, nền kinh tế không thể chỉ trông vào khu vực công hay tín dụng ngân hàng.
Muốn huy động được lượng vốn khổng lồ ấy, điều kiện tiên quyết là phải khơi thông mọi vướng mắc của thị trường, cải cách mạnh ở phía cung và tạo một hành lang pháp lý đủ minh bạch để người dân, doanh nghiệp và nhà đầu tư thấy an toàn khi bỏ vốn dài hạn.
Đánh thức những nguồn lực đang ngủ quên
Điểm rất đáng chú ý trong báo cáo của Chính phủ là việc huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển được coi là giải pháp đặc biệt quan trọng để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Nhìn kỹ hơn, đây là một logic điều hành khá rõ.
Trước hết là tự tạo thêm không gian tài khóa: Phấn đấu tăng thu ngân sách khoảng 10%, tiết kiệm mạnh chi thường xuyên để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển. Cách tiếp cận này cho thấy tăng trưởng cao lần này không bắt đầu từ nới lỏng bằng mọi giá, mà bắt đầu từ kỷ luật ngân sách và hiệu quả chi tiêu công.
Tiếp đó là mở rộng các kênh vốn trung và dài hạn qua trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương, trái phiếu dự án công trình và các khoản vay ODA. Đây là bước dịch chuyển rất cần thiết, bởi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh trong nhiều năm không thể chỉ trông vào vốn tín dụng ngắn hạn.
Quan trọng hơn, Chính phủ đặt rõ yêu cầu tăng đầu tư từ các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, đẩy mạnh đầu tư tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp FDI dùng lợi nhuận chưa chuyển về nước để tái đầu tư tại Việt Nam, đồng thời gắn thu hút FDI với chuyển giao công nghệ và mở rộng hợp lý tỷ lệ sở hữu nước ngoài.
Như vậy, gánh nặng vốn cho tăng trưởng sẽ không đặt lên một khu vực riêng lẻ, mà dựa vào sự cộng hưởng của toàn bộ nền kinh tế.
Xa hơn nữa là phát triển thị trường vốn trung và dài hạn, nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, nâng hạng thị trường chứng khoán để hút các quỹ đầu tư quốc tế và dòng vốn gián tiếp. Đây chính là cách biến tiền nhàn rỗi trong xã hội thành vốn cho doanh nghiệp, thành công nghệ, thành hạ tầng và cuối cùng là thành năng suất.
Nhưng có lẽ chi tiết đắt giá nhất trong toàn bộ nhóm giải pháp là yêu cầu tập trung tháo gỡ nhanh, dứt điểm các dự án tồn đọng kéo dài.
Việc này không chỉ là xử lý vài hồ sơ chậm tiến độ. Quan trọng hơn, đây là cách đánh thức một lượng lớn đất đai, tài sản công, vốn liếng và niềm tin thị trường đang ngủ quên trong nền kinh tế.
Và có lẽ đây mới là thông điệp mạnh nhất trong những ngày đầu nhiệm kỳ của Thủ tướng Lê Minh Hưng: Tăng trưởng hai con số không phải tạo thêm áp lực mới lên nền kinh tế, mà trước hết là đánh thức những nguồn lực cũ đang bị mắc kẹt trong chính nền kinh tế ấy.
Khi luật pháp đủ minh bạch để bảo vệ quyền tài sản, khi thị trường phân bổ nguồn lực đúng tín hiệu hiệu quả, khi khu vực tư nhân được tiếp cận công bằng với đất đai, vốn, công nghệ và cơ hội kinh doanh, thì tăng trưởng trên 10% sẽ không còn là sức ép hành chính.
Nó sẽ trở thành kết quả tự nhiên của một nền kinh tế vận hành đúng quy luật.
Và có lẽ, lời hứa lớn nhất của nhiệm kỳ này nằm ở chỗ giữ vững nền tảng ổn định để mở ra một chu kỳ tăng trưởng mới, nơi mọi nguồn lực đang ngủ quên được đánh thức và chuyển hóa thành sức bật phát triển quốc gia.

