
Từ thủ quỹ đến bị chấm dứt hợp đồng
Ngày 1/11/2016, chị Bùi Thị Mai L. và Công ty CP V. (Hà Nội) ký hợp đồng lao động, loại hợp đồng không xác định thời hạn. Chị L. làm nhân viên theo sự phân công của Ban giám đốc, mức lương thỏa thuận 5 triệu đồng/tháng, phụ cấp 500.000 đồng/tháng và được hưởng tiền ăn ca cùng các khoản thưởng theo quy định.
Đến ngày 25/5/2017, doanh nghiệp ra quyết định điều chỉnh lương, xác định chị L. làm nhân viên thủ quỹ tại phòng Kế toán - Tài chính với mức lương 7 triệu đồng/tháng.
Theo chị L., do phụ trách công việc thủ quỹ và bán vé cáp treo nên thu nhập thực tế của chị cao hơn mức ghi trong quyết định. Tiền lương thực tế chị nhận khoảng 13 triệu đồng/tháng, còn tiền thưởng thay đổi tùy tháng và hiệu quả công việc, trung bình khoảng 3 triệu đồng/tháng trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 12; những tháng mùa lễ hội, tiền thưởng cao hơn.
Chị L. cho rằng, trong suốt thời gian làm việc luôn hoàn thành công việc, chấp hành nội quy, quy chế của công ty.

Tuy nhiên, ngày 10/10/2024, Công ty V. ban hành quyết định cho chị L. thôi thực hiện công việc thủ quỹ và điều chuyển sang vị trí nhân viên phòng kế toán tài chính.
Theo doanh nghiệp, việc thay đổi công việc xuất phát từ tình trạng từ năm 2021 chị L. thường xuyên không đến văn phòng làm việc, có khi đến cuối tháng mới tới công ty. Năm 2022, công ty phải bố trí người khác làm thủ quỹ để bảo đảm hoạt động.
Công ty cho rằng, từ năm 2022 đến tháng 10/2024, chị L. không thực hiện đầy đủ công việc thủ quỹ, không đến công ty ký hóa đơn, chứng từ, phiếu thu, chi. Vì vậy, việc cho thôi giữ việc thủ quỹ và chuyển sang vị trí nhân viên phòng kế toán tài chính là nhằm bảo đảm công việc hiệu quả.
Không đồng ý với quyết định trên, chị L. không bàn giao công việc, sổ sách, giấy tờ và yêu cầu công ty làm rõ lý do cho thôi công việc này.
Ngày 23/10/2024, Công ty V. tiếp tục ra thông báo yêu cầu chị L. đến làm việc và bàn giao công việc, nhưng chị L. vẫn không đến và cũng không có lý do chính đáng.
Ngày 28/10/2024, công ty ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với chị L. kể từ ngày này.
Người lao động kiện đòi 547 triệu đồng, hai cấp tòa đều bác yêu cầu
Cho rằng việc chấm dứt hợp đồng là trái pháp luật, chị L. khởi kiện công ty ra tòa, yêu cầu hủy quyết định chấm dứt hợp đồng.
Cùng với đó, chị L. yêu cầu Công ty V. công khai xin lỗi, nhận mình trở lại làm việc đúng vị trí trước khi bị chấm dứt hợp đồng, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định và bồi thường tổng cộng 547 triệu đồng.
Theo cách tính của chị L., tiền lương thực tế 17 tháng từ tháng 10/2024 đến thời điểm xét xử sơ thẩm là 221 triệu đồng, tương đương khoảng 13 triệu đồng/tháng; tiền lương 2 tháng là 26 triệu đồng và 300 triệu đồng chi phí thuê luật sư cùng các chi phí hợp lý khác.
Công ty V. không chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Doanh nghiệp cho rằng từ ngày 10/10/2024, sau khi được điều chuyển công việc, chị L. vẫn không đến công ty làm việc. Cụ thể, chị L. không đến làm việc từ ngày 11/10 đến hết ngày 31/10/2024 và chưa bàn giao công việc, sổ sách, giấy tờ cho người được phân công.
Từ đó, công ty cho rằng chị L. đã tự ý bỏ việc không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên nên việc chấm dứt hợp đồng là đúng quy định. Doanh nghiệp cho biết đã chi trả 52 triệu đồng trợ cấp thôi việc, tính theo 8 năm làm việc và mức tiền lương 13 triệu đồng/tháng.
Tại bản án sơ thẩm, TAND khu vực 12 - Hà Nội không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị L., trong đó có yêu cầu hủy quyết định chấm dứt hợp đồng, yêu cầu công ty xin lỗi, nhận trở lại làm việc, đóng các loại bảo hiểm và bồi thường 547 triệu đồng.
Không đồng ý, chị L. kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, chị L. chỉ yêu cầu công ty hủy quyết định chấm dứt hợp đồng, công khai xin lỗi và bồi thường 547 triệu đồng; không yêu cầu nhận lại làm việc và đóng bảo hiểm.
HĐXX phúc thẩm nhận định, hợp đồng lao động giữa chị L. và Công ty V. là hợp đồng không xác định thời hạn, được ký kết tự nguyện và có giá trị pháp lý.
Theo hồ sơ, từ năm 2022 đến tháng 10/2024, chị L. không thực hiện công việc thủ quỹ, không đến công ty ký hóa đơn, chứng từ, phiếu thu, chi. Sau khi công ty ban hành quyết định ngày 10/10/2024 cho chị thôi giữ chức vụ thủ quỹ và chuyển sang làm nhân viên phòng kế toán tài chính, chị L. không đến công ty làm việc từ ngày 11/10 đến hết ngày 31/10/2024.
Tòa cho rằng hành vi của chị L. thuộc trường hợp "tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 5 ngày làm việc liên tục trở lên". Do đó, Công ty V. chấm dứt hợp đồng theo điểm e khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động là đúng quy định và không phải báo trước.
HĐXX cũng xác định chị L. có thời gian làm việc tại công ty 8 năm và việc doanh nghiệp chi trả chế độ thôi việc 52 triệu đồng là đúng quy định.
Do đó, tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị L., giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm.
(Bài viết dựa trên Bản án số 28/2026/LĐ-PT ngày 18/6/2026 của TAND TP Hà Nội)
