Ông Trần Quang Cơ: Việc cần làm với Mỹ 'chậm cả 10 năm'

Bản lĩnh Trần Quang Cơ từ trong sâu thẳm luôn chủ trương xây dựng một nền ngoại giao vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo vệ đến cùng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Bản lĩnh Trần Quang Cơ từ trong sâu thẳm luôn chủ trương xây dựng một nền ngoại giao vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo vệ đến cùng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.

Năm 2015 kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ cũng là thời điểm đánh dấu quan hệ hai nước đã và đang phát triển vượt bậc. Nhất là trong bối cảnh lần đầu tiên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng chuẩn bị thăm chính thức Hoa Kỳ vào đầu tháng 7 này.

Nền ngoại giao “Đổi mới” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” đã được khởi động vào thời điểm then chốt năm 1991 (Đại hội 7 Đảng Cộng Sản). Chính cái “nhân” gieo thuở ấy đã mang lại mùa gặt hứa hẹn hôm nay.

Tại một hội thảo gần đây về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, nguyên Đại sứ đầu tiên của nước ta tại Mỹ Lê Bàng đã đề nghị việc ghi nhận công lao của của một số cá nhân trong việc thúc đẩy, đàm phán bình thường hoá quan hệ với Mỹ mà trước nay chưa được nhắc đến nhiều trong đó có Thứ trưởng Trần Quang Cơ, Thứ trưởng Lê Mai...[1]

{keywords}

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ cùng đoàn Việt Nam đến Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Paris (Pháp) để đàm phán về việc bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1977) - Ảnh: Sách ảnh 65 năm ngoại giao Việt Nam (1945-2010)/ Báo Thanh Niên

Cái nhìn tỉnh táo từ rất sớm

Nhiều năm sau “thời điểm then chốt” khi nhìn lại, cựu Ủy viên TƯ Đảng, Thứ trưởng Thứ nhất Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ vẫn cảm thấy có phần tiếc nuối. Theo ông, những việc cần thiết làm với Mỹ, trên thực tế chúng ta đã tiến hành, nhưng “chậm trễ tới cả mười năm”[2].

Bởi như ông thẳng thắn chỉ ra khi được hỏi nếu nghĩ lại, ông có thấy trước đây những cơ hội nào bị bỏ lỡ, những điều gì Việt Nam có thể làm khác không: “Một nước nhỏ hay trung bình như Việt Nam thì càng nhiều bạn càng tốt. Tôi thấy điều có thể làm khác là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm hơn. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ”.

Giờ thì đã quá muộn để có thể hỏi trực tiếp cựu Thứ trưởng Thứ nhất Trần Quang Cơ về cách ông tính như thế nào để đưa ra chỉ dấu cho thấy, chúng ta triển khai một kế sách về an ninh quốc gia quan trọng dường ấy mà để muộn mất cả chục năm. Chúng ta rất muốn hỏi ông nguyên nhân tại sao. Không phải để quy trách nhiệm, mà cái chính là để rút bài học cho hiện tại và cho tương lai.

Quả thật, ngay từ rất sớm, ông Trần Quang Cơ đã có cái nhìn tất tỉnh táo khi cho rằng, một nước Việt Nam đổi mới, độc lập với các nước lớn, cải thiện quan hệ và hoà nhập với các đồng minh của Mỹ ở Đông Nam Á là phù hợp với lợi ích của Mỹ về hoà bình, ổn định, nhằm duy trì ảnh hưởng của Mỹ và hạn chế các thách thức nổi lên đối với vị trí của Mỹ ở khu vực.

Ông Cơ cũng đã phân tích các mối tương tác tạo nên vị thế của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ. Ông cho rằng, tuy không có một vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, nhưng Việt Nam vẫn là một nhân tố mà Mỹ không thể không tính đến trong chiến lược của Washington ở Châu Á–TBD và Đông Nam Á. Hơn nữa, về kinh tế Mỹ có lợi ích tranh thủ thị trường và nguồn nguyên liệu của Việt Nam. Mỹ không muốn vắng mặt trong khi các đối thủ của Mỹ đi mạnh vào thị trường Việt Nam.

Trăn trở về quyền lợi đất nước, tinh thần độc lập, tự chủ

Là chuyên gia loại một, ngay từ những ngày đầu, ông Trần Quang Cơ đã giữ cương vị nòng cốt trong hầu hết các giai đoạn quan trọng nhất của ngành ngoại giao giai đoạn 1960 - 1980. Với tư cách một chuyên viên cao cấp về Mỹ, ông đã tham gia với vai trò là một trong những cán bộ lãnh đạo các đơn vị chuyên trách, tham mưu về giải pháp phục vụ cho cuộc hòa đàm Paris, sau đó trực tiếp tham gia đoàn đàm phán cả công khai lẫn bí mật (kết thúc vào tháng 1/1973).

Mấy năm về sau, trong chiều hướng đi tìm những đối thoại thẳng thắn giữa các cựu thù, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đã đề nghị các học giả và các nhà lãnh đạo cuộc “chiến tranh Việt Nam” (theo cách nói của người Mỹ), cùng ngồi xuống duyệt lại những quyết định trong chính sách để hiểu rõ hơn, nhưng đặc biệt là để rút ra những kinh nghiệm lịch sử cho toàn cầu thông qua “bài học Việt Nam”.

Sáu hội nghị như thế đã diễn ra tại Hà Nội từ tháng 11/1995 đến tháng 2/1998. Hội nghị thứ 7 diễn ra tại Viện Rockefeller ở Bellagio, Italy. Ông Trần Quang Cơ, ông Nguyễn Cơ Thạch và một số học giả, tướng lĩnh và cựu lãnh đạo CHXHCN Việt Nam đã tham dự chuỗi hội nghị ma-ra-tông này, mà quan trọng nhất là hai hội nghị chính vào tháng 6/1997 và tháng 2/1998. Cả ông Cơ lẫn ông Thạch đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình hàn gắn quan hệ Việt – Mỹ.

Nhưng có lẽ liên quan đến các diễn tiến phức tạp hơn trong quan hệ với Mỹ và các nước lớn khác là giai đoạn đầy năng động và sáng tạo của ngoại giao Việt Nam vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990. Ông Trần Quang Cơ lúc ấy đã là thành viên ban lãnh đạo của Bộ Ngoại giao, cùng với tân Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, Thứ trưởng Trần Quang Cơ luôn chủ động đề xuất các ý kiến dựa trên những đánh giá tỉnh táo, những trăn trở về quyền lợi của đất nước, thấm nhuần tinh thần độc lập, tự chủ trong tư duy cũng như trong tác phong lãnh đạo.

Liên quan đến công tác nghiên cứu chiến lược cũng như các hành vi mang tính động thái, ông Trần Quang Cơ luôn có cách nhìn “cân bằng và đối trọng”. Trong quan hệ với Mỹ, ông chủ trương phải tăng cường hợp tác trên nhiều mặt nhưng vẫn cần đấu tranh khi nẩy sinh vấn đề trái với lợi ích của ta (ví dụ như vấn đề chất độc da cam chẳng hạn). Với Trung Quốc cũng vậy, ông thường nhắc không thể quá nặng về hợp tác và nhân nhượng để bị đánh giá là ta thúc thủ, coi nhẹ mặt đấu tranh.

Viết những dòng này nhân ngày tiễn ông Trần Quang Cơ đi xa, lớp hậu sinh chúng ta hẳn không quên một trong những dòng tâm sự cuối cùng của ông, được lưu lại trong một bài viết ghi dưới là “tháng Chạp năm 2010” mà ông chuyển cho anh Nguyễn Vĩnh, nguyên Tổng Biên tập báo Quốc Tế (nay là báo Thế Giới và Việt Nam): “Rút cục chỉ có chính nhân dân ta mới thực sự cứu được nước ta thôi. Nhưng trên dưới phải một lòng, như thời Hội nghị Diên Hồng ngày xưa. Đảng phải dựa vào Dân, Dân vững lòng tin cậy vào Đảng thì dân tộc ta mới thực sự có sức mạnh để bảo vệ đất nước”.

Đinh Hoàng Thắng

Hà Nội ngày 1/7/2015, viết nhân Tang lễ cựu Thứ trưởng Thứ nhất Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ

-------------

[1] Cố Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ: Một lòng vì Tổ quốc, Thanh niên,

[2] Câu chuyện về ngoại giao nhân dân, Dân trí, 10/10/2011.

 

tin nổi bật

Học phí đại học tăng mạnh, cơ hội nào cho sinh viên nghèo?

Vài năm gần đây, học phí các trường đại học tăng mạnh, chắc chắn sẽ làm nhiều người phải từ bỏ ước mơ như tôi ngày xưa…

Gần 100 biệt thự cũ Hà Nội được bảo tồn: Tốt nhưng chưa phải cốt lõi

Có lẽ đây là một thông tin vui, rất đáng quan tâm của xã hội về chủ trương sẽ chỉnh trang và bảo tồn các kiến trúc cổ của Thủ đô trong thời gian tới.

Hàng nghìn công chức, viên chức dứt áo 'rời công, sang tư': Sàng lọc ngược

Việc hàng loạt cán bộ rời khu vực công sang khu vực tư diễn ra ở nhiều nơi gần đây là bất thường, cho thấy khu vực công đang thiếu sức hấp dẫn và tồn tại nhiều vấn đề cần được giải quyết.

Cựu Thủ tướng Ehud Barak: Israel tìm mọi cách để phát hiện, chăm sóc từng nhân tài

Israel rất nhỏ bé, không có nhiều tài nguyên giá trị như dầu hay mỏ quý. Nhưng chúng tôi có thứ nguyên liệu giá trị nhất: chất xám - cựu Thủ tướng Israel Ehud Barak chia sẻ với Tuần Việt Nam trong chuyến công du tới Việt Nam.

Bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài, để đi học không thành đi shopping

Theo Kết luận số 39 mới đây, Bộ Chính trị dự kiến, từ nay đến 2025, mỗi năm sẽ cử đi nước ngoài bồi dưỡng khoảng 400 cán bộ; và khoảng 500 cán bộ mỗi năm cho giai đoạn 2026-2030.

Về nơi ‘nằm sấp thấy cá, nằm ngửa thấy ong’

Tương Dương - Nghệ An cùng với Hương Khê - Hà Tĩnh và Đông Hà - Quảng Trị là ba điểm nắng nóng nhất miền Trung. Nhưng ít ai biết rằng, ở ngay cạnh “rốn nóng” Tương Dương lại là một điểm đến lý thú bậc nhất ở miền tây Nghệ An.

Lý do khiến nữ Bộ trưởng Giáo dục Hàn Quốc từ chức

Bộ trưởng Giáo dục Hàn Quốc Park Soon-ae buộc phải từ chức ngày 8/8 do thất bại trong việc thuyết phục người dân chấp nhận việc bắt đầu bậc tiểu học từ 5 tuổi.

Singapore - bậc thầy về tuyển chọn, cử người ra nước ngoài học tập

Để cử người ra nước ngoài học sau đó về làm cho khu vực công, đảo quốc sư tử làm rất bài bản từ khâu tuyển chọn đến khâu sử dụng.

Người tài không bỏ việc, chỉ rời bỏ sếp kém

Không ít người tài được đưa đi đào tạo, sau khi tốt nghiệp được bố trí công việc thì xin nghỉ hoặc chuyển ra ngoài cơ quan nhà nước. Họ không rời bỏ công việc mà chỉ rời bỏ người quản lý yếu kém.

Những tín hiệu sau cuộc gặp của Ngoại trưởng Mỹ - Trung

Đây là lần hội đàm đầu tiên giữa lãnh đạo ngoại giao Mỹ - Trung kể từ cuộc tiếp xúc tháng 10/2021 trong bối cảnh hai cường quốc tăng cường tương tác khi phương Tây đang tập trung vào xung đột Nga - Ukraine.

Chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành: Cơ sở nào để nói CPI sai?

Có người nói với tôi họ có cảm giác CPI không đúng. Tôi trả lời, lấy cơ sở nào để nói CPI là sai? Về mặt khoa học thì không chứng minh được - chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành chia sẻ.

Đưa cán bộ đi nước ngoài: Khát vọng học thành tài trong thời đại 4.0

Kết luận 39 có đề cập tới việc bồi dưỡng cán bộ về khoa học công nghệ và cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Đây là chủ trương rất đúng và trúng.

Người Do Thái dạy trẻ con làm nông nghiệp, trở thành những thanh niên biết làm giàu

Israel nổi tiếng là một quốc gia phát triển về nông nghiệp công nghệ cao (agtech). Bằng trí tuệ và lao động, họ đã biến vùng đất với hơn 60% diện tích là sa mạc thành những nông trại trù phú.

Minh Trị Thiên Hoàng với quyết tâm canh tân nước Nhật, học bên ngoài để vươn lên

Minh Trị Thiên Hoàng (1852-1912) trị vì từ năm 1867 cho đến khi qua đời. Ông được coi là một minh quân có công lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản.

Vị vua cải trang làm thợ ở Hà Lan để học đóng tàu

Mỗi quốc gia có con đường riêng để phát triển, đi lên. Tuy nhiên, lịch sử nhân loại đã cho thấy trong quá trình phát triển “riêng” của từng quốc gia, dường như có một điểm “chung“ cho các nước…