
PV VietNamNet có cuộc trao đổi với PGS Nguyễn Huy Thắng - Phó Chủ tịch Hội Đột quỵ Việt Nam, Trưởng khoa Bệnh lý mạch máu não - Bệnh viện Nhân dân 115 TPHCM về quá trình mạng lưới cấp cứu đột quỵ Việt Nam phát triển từ con số 0 đến gần 200 đơn vị khắp cả nước.
20 phút thay đổi kết cục của người bệnh
- Điều gì đưa ông đến với chuyên ngành đột quỵ?
Khi tôi tốt nghiệp đại học, ở Việt Nam gần như chưa có những chuyên gia hay chuyên ngành sâu về đột quỵ.
Cơ duyên đến khi tôi nhận được học bổng về chuyên ngành đột quỵ của Đại học Quốc gia Singapore vào năm 2005. Sau đó, tôi được tiếp tục đào tạo về đột quỵ tại Đại học Alabama (Mỹ) dưới sự hướng dẫn của một giáo sư đầu ngành. Đó là lần đầu tiên tôi được tiếp cận với chuyên ngành này một cách đúng nghĩa.
Tôi nhận ra đây là một lĩnh vực rất tiềm năng. Quan trọng hơn, tôi thấy rõ vai trò của người thầy thuốc có thể làm thay đổi kết cục của bệnh nhân rất nhanh chóng.
Trước năm 1995, khả năng điều trị đột quỵ trên thế giới còn rất hạn chế. Sự ra đời của thuốc tiêu sợi huyết (1996) và kỹ thuật lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học (2015) đã làm thay đổi số phận của các bệnh nhân đột quỵ.

- Ông có thể chia sẻ về trở ngại khi đưa kỹ thuật này về Việt Nam?
Thuốc tiêu sợi huyết hoặc lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học rất hiệu quả, tuy vậy, việc triển khai kỹ thuật này không đơn giản. Các phương pháp điều trị cấp giống như một con dao hai lưỡi. Một mặt có thể cứu sống bệnh nhân, giảm nguy cơ tàn phế; mặt khác có thể gây biến cố chảy máu hoặc tử vong. Nếu bác sĩ không được đào tạo bài bản và có quy trình chuẩn, việc điều trị có thể trở nên không an toàn.
Những ca đầu tiên mà tôi chứng kiến thực sự rất kỳ diệu. Một bệnh nhân đang liệt nửa người, sau khi dùng thuốc, chỉ khoảng 20-30 phút sau có thể cử động trở lại.
- Điều gì khiến ông dành nhiều năm đi đến nhiều tỉnh, thành để xây dựng mạng lưới đột quỵ?
Tôi muốn khẳng định rằng đột quỵ là một bệnh có thể chữa được nếu người bệnh đến bệnh viện sớm. Tôi nhớ những ca đầu tiên ở người trẻ (38-39 tuổi) tiêm thuốc này xong đã bình phục, có thể đi lại, làm việc bình thường và hiện nay tiếp tục tái khám.

Đặc biệt, tôi nhớ đồng nghiệp của mình bị đột quỵ, ban đầu được đưa vào một bệnh viện chưa thực hiện các kỹ thuật trên. Sau đó, anh được chuyển về chỗ chúng tôi trong tình trạng rất nặng. Sau khi được điều trị, anh phục hồi ngoạn mục. Thật sự hạnh phúc vì giúp được chính những người đồng nghiệp của mình.
Cho đến nay, tại Bệnh viện Nhân dân 115, mỗi năm có thể điều trị cấp cứu hơn 2.000 trường hợp bằng các kỹ thuật như tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch và can thiệp lấy huyết khối.
Tôi thường nghĩ nếu không áp dụng những kỹ thuật này, tất cả người bệnh đột quỵ sẽ ra sao và bao nhiêu gia đình ảnh hưởng? Nhân con số đó lên trong nhiều năm, chúng ta sẽ thấy lợi ích của điều trị đột quỵ cấp cứu lớn đến mức nào.
Nếu tất cả người bệnh đều phải dồn về một vài trung tâm lớn, số lượng sẽ quá tải. Người bệnh ở xa càng thiệt thòi, do vậy chúng tôi cần đưa kỹ thuật này đến các tỉnh, thành trong cả nước.
Trong điều trị đột quỵ, thời gian chính là não. Vì vậy, người bệnh được điều trị càng sớm thì càng có cơ hội giữ lại chức năng não.
Gần 200 vẫn chưa đủ
- Từ con số 0 đến nay mạng lưới các đơn vị điều trị đột quỵ ở Việt Nam lên gần 200, có nơi là bệnh viện tuyến cơ sở. Ông đánh giá sao về quá trình này?
Tôi cho rằng đó là một bước tiến vĩ đại nhưng vẫn chưa đủ. Mỗi năm Việt Nam có trên 200.000 ca đột quỵ mới. Theo các khuyến cáo quốc tế, số lượng trung tâm đột quỵ của Việt Nam cần ít nhất gấp đôi hiện nay. Điều đó có nghĩa chúng ta có thể phải hướng tới 400-500 trung tâm, đơn vị đột quỵ.

Nhưng số lượng chỉ là bước đầu. Điều tôi cần quan tâm hiện nay là chất lượng điều trị giữa các trung tâm chưa đồng đều. Có những người vẫn cố gắng đi rất xa để đến một bệnh viện mà họ tin tưởng, thay vì đến cơ sở gần nhất. Điều đó cho thấy chúng ta chưa tạo được sự tin cậy cho họ.
- Theo ông, mắt xích quan trọng nhất cần cải thiện hiện nay là gì?
Sau khi phát triển về số lượng, chúng ta phải nâng chất lượng và quan trọng hơn là kết nối các trung tâm thành một mạng lưới thống nhất. Nếu các trung tâm không liên hệ với nhau, chúng ta không thể hỗ trợ chuyên môn, hội chẩn những trường hợp khó hoặc chuyển bệnh nhân một cách hợp lý.
Có những trường hợp đang ở một trung tâm có khả năng điều trị nhưng lại vượt tuyến, đi thêm vài giờ để đến nơi khác. Ngược lại, có bệnh nhân vượt quá khả năng điều trị của cơ sở đó nhưng lại không được chuyển đến nơi cần thiết. Một mạng lưới thống nhất có thể giải quyết những vấn đề trên

- Nhìn lại hành trình gần 20 năm, điều gì khiến ông tự hào nhất?
Điều tôi tự hào nhất là việc phát triển rất nhanh chuyên ngành đột quỵ tại Việt Nam. Cách đây 20 năm, nước ta gần như bắt đầu từ con số 0 trong điều trị đột quỵ. Đến nay, các kỹ thuật điều trị tiên tiến đã giúp Việt Nam sánh ngang nhiều nước trong khu vực, thậm chí vượt Malaysia, Philippines, Indonesia và có thể ngang hoặc nhỉnh hơn Thái Lan ở một số lĩnh vực. Đặc biệt, ngày càng có nhiều công trình, nghiên cứu khoa học được thực hiện và công bố từ Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế y học nước nhà trên thế giới.
Tôi hy vọng sẽ có thêm một đội ngũ bác sĩ trẻ không chỉ giỏi thực hành lâm sàng, biết áp dụng những kỹ thuật mới mà còn đam mê nghiên cứu khoa học. Chúng ta không chỉ cần chữa được nhiều bệnh nhân hơn mà còn phải tạo ra những tri thức mới để góp phần thay đổi bộ mặt y học Việt Nam và vươn lên cùng bạn bè quốc tế.
Vâng xin cảm ơn ông!


