Lúc 6h sáng ngày 1/3/1954, Mỹ đã kích nổ một vũ khí nhiệt hạch tại đảo san hô vòng Bikini thuộc quần đảo Marshall ở trung tâm Thái Bình Dương, nằm giữa Hawaii và Australia. Vụ thử nghiệm được đặt mật danh là "Castle Bravo". 

Theo trang Popular Mechanics, sự kiện trên diễn ra vào đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi Mỹ và Liên Xô đang chạy đua với nhau để chế tạo các loại vũ khí hạt nhân lớn hơn, tốt hơn và có sức tàn phá mạnh hơn. Mỹ đã thử nghiệm quả bom nhiệt hạch (còn gọi là bom khinh khí, bom H) đầu tiên với quy mô đầy đủ vào năm 1952 trong vụ thử Ivy Mike. Vụ nổ nhiệt hạch tại đảo san hô Enewetak đã phá hủy hòn đảo nhỏ Elugelab và để lại một miệng hố rộng 1,6km.

Sau đó, Mỹ muốn có một quả bom đủ nhỏ để máy bay có thể mang theo và có thể sử dụng trong chiến tranh. Thiết bị này được đặt biệt danh là "Con tôm", một cái tên châm biếm cho quả bom có sức công phá 15 megaton khi phát nổ, gấp 1.000 lần sức công phá của quả bom hạt nhân thả xuốngthành phố Hiroshima của Nhật Bản.

Nổ bom nhiệt hạch. Ảnh: Bộ Năng lượng Mỹ
Nổ bom nhiệt hạch. Ảnh: Bộ Năng lượng Mỹ

Quả bom H "Con tôm" được đặt trong một cấu trúc thử nghiệm nhỏ trên một hòn đảo nhân tạo được xây dựng trên rạn san hô ngoài khơi đảo Namu thuộc đảo san hô Bikini. Khi bom phát nổ vào sáng hôm đó, vụ nổ đã xé toạc rạn san hô và nước biển, làm hàng triệu tấn cát, san hô và nước bốc hơi, tạo ra một miệng hố dưới đáy biển và đẩy các mảnh phóng xạ bắn lên cao trên không trung.

Đảo san hô Rongelap, một chuỗi đảo san hô bao quanh một đầm phá, cách địa điểm thử nghiệm khoảng 177km. Khoảng 80 người trên đảo Rongelap và đảo Ailinginae gần đó trở thành nhóm dân thường bị ảnh hưởng nặng nề nhất từ ​​vụ thử nghiệm. Trước khi vụ thử nghiệm diễn ra, không ai thông báo cho họ sơ tán vì các nhà hoạch định Mỹ cho rằng bụi phóng xạ sẽ không ảnh hưởng đến các đảo san hô nơi người dân sinh sống hoặc sẽ đến muộn hơn nhiều, sau khi phần lớn phóng xạ đã giảm bớt.

Tuy nhiên, đó là một giả định chết người. Sarah Scoles, tác giả bài viết “Mỹ cố gắng thử nghiệm một loại vũ khí mới khổng lồ và nó đã biến thành một cơn ác mộng hạt nhân” lý giải: "Vào thời điểm đó, các nhà khoa học vũ khí đã tính toán rằng quả cầu lửa do quả bom tạo nên sẽ ổn định phía trên tầng bình lưu, nơi nó sẽ lưu thông và lan rộng trên một vùng rộng lớn, không tạo ra nhiều bụi phóng xạ cục bộ ngay lập tức. Họ cho rằng gió sẽ mất từ ​​12 - 15 giờ để mang bụi phóng xạ đến các đảo san hô có người sinh sống, đến lúc đó vật chất này sẽ không còn nguy hiểm nữa vì đã nguội lạnh và phân rã". 

Tuy nhiên, nhà sử học hạt nhân Alex Wellerstein cho hay: "Hóa ra mọi chuyện không diễn ra như vậy". 

Vụ nổ làm san hô vỡ vụn thành những mảnh nhỏ như hạt cát, các hạt lớn hơn rơi nhanh hơn dự kiến và đáp xuống gần địa điểm quả bom phát nổ. Các hạt lớn này có độ phóng xạ cao vì không đủ thời gian phân rã trong khí quyển. Chỉ vài giờ sau vụ nổ, người dân trên đảo Rongelap đã chứng kiến ​​một loại bột trắng kỳ lạ rơi xuống đảo của họ. Nó bám vào nhà cửa, nguồn nước, thực phẩm, da và tóc của họ. 

Hai ngày sau, cư dân ở Rongelap và các khu vực bị ảnh hưởng gần đó đã được sơ tán đến đảo san hô Kwajalein để được chăm sóc y tế và ngăn ngừa phơi nhiễm thêm. Song đã quá muộn vì lúc đó bụi phóng xạ đã xâm nhập vào cuộc sống thường nhật. Một báo cáo y tế sau đó cho thấy nhóm người bị phơi nhiễm đã hấp thụ lượng phóng xạ toàn thân đáng kể, bị ô nhiễm da trên diện rộng và có thể bị nhiễm phóng xạ bên trong cơ thể.

Thảm họa Castle Bravo không dừng lại ở đó. 23 thành viên thủy thủ đoàn trên tàu đánh cá Lucky Dragon số 5 của Nhật Bản cũng bị phơi nhiễm và một thủy thủ sau đó đã chết. Ngoài ra, Viện Ung thư Quốc gia Mỹ ước tính có tới 1,6% tổng số ca ung thư ở người dân quần đảo Marshall, sống từ năm 1948 - 1970, có thể là do bụi phóng xạ từ các vụ thử hạt nhân của Mỹ gây ra.

Siêu pháo hồi sinh của Mỹ có thể thay thế tên lửa?
Các tướng lĩnh và chính trị gia từ lâu đã bị những khẩu pháo lớn mê hoặc vì ngoài vẻ đẹp thẩm mỹ, chúng còn có các tính năng lợi hại như phá vỡ công sự hoặc tàu chiến bọc thép ở khoảng cách rất xa.