Mã số vùng trồng (MSVT) và mã số cơ sở đóng gói (thậm chí gắn QR code trên từng sản phẩm-NV) không còn chỉ là yêu cầu kỹ thuật để xuất khẩu mà đang trở thành nền tảng của nông nghiệp số. Khi người dân được tiếp cận đầy đủ thông tin, dữ liệu và quy định của thị trường, khoảng cách thông tin được thu hẹp cũng là lúc cơ hội đưa nông sản Việt vươn ra thế giới được mở rộng.

Từ cấp phép sang quản lý bằng dữ liệu số
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) đang xây dựng dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói. Điểm mới lớn nhất của dự thảo là chuyển từ tư duy "xin - kiểm - cấp" sang quản lý dựa trên dữ liệu số và cơ chế hậu kiểm.

Theo dự thảo, hồ sơ cấp mã số được rút gọn, chỉ còn đơn đề nghị theo mẫu và thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời gian giải quyết cũng được rút ngắn đáng kể. Cơ quan chuyên môn phải thông báo cấp mã số hoặc trả lời bằng văn bản trong tối đa 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Đối với trường hợp chỉ thay đổi thông tin hành chính hoặc bổ sung thị trường xuất khẩu, thời gian xử lý chỉ còn 2 ngày.

W-12.Cong nghe nong nghiep.jpg
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, tình trạng mượn, cho thuê, mua bán hoặc sử dụng trái phép mã số vẫn xảy ra ở một số nơi. 

Việc quản lý dựa trên dữ liệu số và cơ chế hậu kiểm giúp giảm khoảng 47% thời gian giải quyết thủ tục và hơn 34% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để nông sản không bỏ lỡ thời điểm thu hoạch và xuất khẩu. Câu chuyện "lỡ" của trái sầu riêng, thanh long... khi phải đợi cấp MSVT khi xuất khẩu thời gian qua là bài học đắt giá.

Đáng chú ý, Bộ NN&MT cũng lưu ý, cải cách thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Toàn bộ thông tin về vùng trồng sẽ được quản lý trên hệ thống dữ liệu số tập trung của Bộ NN&MT, kết nối với cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc nông sản. Đây là nền tảng để cơ quan quản lý theo dõi hoạt động của từng vùng trồng, giám sát từ xa và thực hiện hậu kiểm minh bạch. Đối với nông sản xuất khẩu, việc kiểm tra vẫn được duy trì theo các tiêu chuẩn kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu.

Theo các chuyên gia kinh tế, việc số hóa dữ liệu cũng góp phần giảm nghèo thông tin cho người sản xuất, đặc biệt là nông dân - những người trực tiếp làm ra nông sản. Khi các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật và thông tin thị trường được cập nhật trên nền tảng số, nông dân có thể tiếp cận nhanh hơn, chủ động hoàn thiện quy trình sản xuất thay vì chỉ biết đến yêu cầu khi hàng hóa chuẩn bị xuất khẩu.

Trong quá trình xây dựng chính sách, vấn đề gắn MSVT với mã định danh đất đai nhận được nhiều ý kiến. Theo Bộ NN&MT, hiện cả nước vẫn còn gần 30 triệu thửa đất nông nghiệp chưa được chuẩn hóa dữ liệu. Nếu bắt buộc phải có mã định danh đất đai mới được cấp MSVT, tiến độ sẽ bị đình trệ, trong đó ví dụ dễ thấy nhất là vụ sầu riêng sắp tới tại Tây Nguyên.

Để tháo gỡ khó khăn này, Bộ NN&MT thống nhất phương án tiếp tục cấp mã số theo vị trí thửa đất nhưng chưa bắt buộc gắn ngay với mã định danh đất đai. Việc cấp mã dựa trên thông tin kê khai của chủ thể và xác nhận diện tích, vị trí của UBND cấp xã, vừa bảo đảm tính xác thực vừa không làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu trong khi chờ cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia hoàn thiện.

Sau khi Nghị quyết được ban hành, Chính phủ sẽ triển khai đợt cao điểm 30 ngày. Bộ NN&MT cử các tổ công tác trực tiếp xuống địa phương hướng dẫn, rà soát và xử lý hồ sơ, hạn chế tình trạng tồn đọng, nhất là tại các vùng nguyên liệu trọng điểm. Bộ NN&MT khuyến cáo, nông dân cần chủ động tiếp cận thông tin chính sách liên quan để tránh bị thiệt thòi khi làm các thủ tục cấp phép và nhận các ưu đãi/ hỗ trợ (nếu có) của Chính phủ giúp nông dân tiêu thụ nông sản.

Giảm nghèo thông tin để xây dựng nền nông nghiệp minh bạch
Bộ NN&MT cho biết thêm, song song với cải cách thủ tục, công tác thanh tra, kiểm tra tiếp tục được Bộ này siết chặt nhằm bảo vệ uy tín nông sản Việt Nam. Trước đó, Thanh tra Chính phủ đã công bố quyết định thanh tra việc cấp và quản lý MSVT tại ba tỉnh trọng điểm gồm Đắk Lắk, Lâm Đồng và Đồng Tháp.

Thực tế cho thấy, tình trạng mượn, cho thuê, mua bán hoặc sử dụng trái phép mã số vẫn xảy ra ở một số nơi. Những vi phạm này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu lực quản lý nhà nước mà còn làm gia tăng nguy cơ hàng hóa bị trả về từ các thị trường khó tính, tác động trực tiếp đến thương hiệu nông sản Việt Nam. Đợt thanh tra nhằm đánh giá toàn diện, làm rõ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan và hoàn thiện cơ chế quản lý.

Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Hoàng Hiệp cho rằng, nông dân cần thay đổi tư duy tổ chức sản xuất. Trước đây, nhiều địa phương thành lập hợp tác xã chủ yếu để đủ điều kiện làm hồ sơ xin cấp mã số. Định hướng mới là để yêu cầu của thị trường trở thành động lực liên kết sản xuất. Khi một vùng trồng có mã số và tạo ra giá trị kinh tế cao, người dân sẽ chủ động tham gia hợp tác xã, hình thành vùng nguyên liệu lớn và nâng cao năng lực cạnh tranh.

"Tuy nhiên, nếu mã số có diện tích nhỏ, sẽ khó tạo ra vùng nguyên liệu cạnh tranh", Thứ trưởng Bộ NN&MT Nguyễn Hoàng Hiệp lưu ý. Để minh chứng thêm cho vai trò của MSVT, ông Hiệp ví dụ với mục tiêu xuất khẩu cà phê đạt 9 tỷ USD, khả năng truy xuất nguồn gốc từ MSVT sẽ là điều kiện quan trọng để duy trì thị trường châu Âu, khi các tiêu chuẩn của khối này ngày một nâng cao hơn.

Thực tế, việc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý bằng hồ sơ giấy sang dữ liệu số không chỉ là cải cách thủ tục hành chính mà còn là bước đi quan trọng trong giảm nghèo thông tin cho nông dân. Khi người sản xuất được tiếp cận đầy đủ thông tin, công nghệ và yêu cầu của thị trường, mã số vùng trồng sẽ không chỉ là "giấy thông hành" cho xuất khẩu mà còn trở thành nền tảng để xây dựng nền nông nghiệp số, minh bạch và phát triển bền vững.