
Ông Đ.T.H (TP Huế) muốn hỏi cơ quan thuế về cách xác định thuế thu nhập cá nhân (TNCN) khi cho tặng quyền sử dụng đất.
Cụ thể, một thửa đất do hai chị em bà H. và bà T. cùng đứng tên sở hữu, nay hai người lập hợp đồng tặng cho 3 người gồm con đẻ và cháu.
“Theo quy định, tặng cho giữa mẹ và con đẻ được miễn thuế TNCN, chỉ tính thuế đối với người cháu. Tuy nhiên, cơ quan thuế lại tính thuế đối với 2/3 người nhận tặng cho. Tôi xin hỏi: Việc tính thuế như vậy là đúng hay sai?”, ông H. muốn cơ quan thuế giải đáp rõ.

Trả lời trường hợp này, Thuế cơ sở 1 TP Huế cho biết, căn cứ xác định thu nhập chịu thuế và thu nhập miễn thuế được quy định tại khoản 9 Điều 3 và khoản 4 Điều 4 Luật Thuế TNCN 2007.
Cụ thể, khoản 9 Điều 3 Luật Thuế TNCN quy định: “Thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và các tài sản phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng” thuộc diện chịu thuế TNCN.
Khoản 4 Điều 4 Luật Thuế TNCN: “Thu nhập từ chuyển nhượng, nhận thừa kế, quà tặng là bất động sản giữa vợ với chồng; cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha chồng, mẹ chồng với con dâu; cha vợ, mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội với cháu nội; ông ngoại, bà ngoại với cháu ngoại; anh, chị, em ruột với nhau” thuộc thu nhập được miễn thuế.
Theo quy định trên, trường hợp tặng cho giữa bà H., bà T. và các cá nhân nhận tặng cho chỉ được miễn thuế đối với phần giá trị tài sản nhận tặng cho giữa các bên có quan hệ thuộc diện miễn thuế theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Luật Thuế TNCN.
Bên cạnh đó, căn cứ vào phần tài sản được định đoạt trong hợp đồng tặng cho, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà H. và bà T. là đồng sở hữu quyền sử dụng đất, không có thỏa thuận tỷ lệ sở hữu.
Khoản 2 Điều 210 Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 quy định: Các chủ sở hữu chung hợp nhất có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với tài sản thuộc sở hữu chung.
Do đó, về nguyên tắc pháp lý, bà H. và bà T. có quyền định đoạt đối với 1/2 giá trị quyền sử dụng đất của mình (trường hợp nếu có thỏa thuận khác thì sẽ phân chia theo thỏa thuận).
Về cách xác định nghĩa vụ thuế, theo Thuế cơ sở 1 TP Huế, nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được công chứng ngày 16/1/2026 không thể hiện tỷ lệ tặng cho cụ thể mà chỉ thể hiện bà H. và bà T. tặng cho toàn bộ quyền sử dụng đất cho ba người gồm ông H.V.T (con đẻ của bà H.), ông H.T.H (con đẻ của bà T.) và ông H.Đ.A.H là cháu.
Vì quyền sử dụng đất là tài sản sở hữu chung, mỗi người tặng cho được xác định có quyền định đoạt đối với một nửa giá trị tài sản. Phần giá trị này sau đó được chia đều cho ba người nhận tặng cho.
Đối với 1/2 giá trị tài sản của bà H. được chia cho 3 người nhận. Trong đó, phần nhận tặng cho của ông H.V.T (quan hệ mẹ - con đẻ) được miễn thuế TNCN. Phần nhận tặng cho ông H.T.H và cháu H.Đ.A.H không thuộc diện miễn thuế, phải tính thuế TNCN theo quy định.
Đối với 1/2 giá trị tài sản của bà T. cũng được chia cho 3 người nhận. Trong đó, phần nhận tặng cho của ông H.T.H (quan hệ mẹ - con đẻ) được miễn thuế TNCN. Phần nhận tặng cho ông H.V.T và cháu H.Đ.A.H không thuộc diện miễn thuế, phải tính thuế TNCN theo quy định.
