Lộ bằng chứng thuê nhà từ “Giấy xin sửa chữa nhà”
Theo trình bày của bà Y. (ngụ TP Hà Nội), bố mẹ chồng bà có căn nhà 91m2 tại phố cổ Hà Nội, được xác lập quyền sở hữu từ năm 1941 bằng Bằng khoán điền thổ. Sau khi bố mẹ chồng bà lần lượt qua đời mà không để lại di chúc, 12 người con trong gia đình đã lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản trong nội bộ gia đình vào năm 1980.
Bà Y. cho rằng sau khi chia thừa kế, các đồng thừa kế đã nhường lại phần lớn diện tích tầng 1 và tầng 2 cho vợ chồng bà quản lý, sử dụng.
Trong những năm 1950-1960, mẹ chồng bà cho một số hộ dân thuê nhà, trong đó có gia đình ông H. và gia đình ông C. Theo bà Y., các hộ thuê từng trả tiền thuê nhà trong nhiều năm nhưng từ thập niên 1980 thì ngừng thanh toán dù vẫn tiếp tục ở lại.
Gia đình bà Y. nhiều lần yêu cầu trả nhà và tiền thuê nhưng không thành nên khởi kiện ra tòa, yêu cầu buộc các hộ dân trả lại diện tích đang sử dụng và thanh toán tổng cộng hơn 700 triệu đồng tiền thuê nhà còn thiếu.

Trong khi đó, phía bị đơn phủ nhận quan hệ thuê nhà. Ông L. (con trai ông H.) cho biết ông sinh ra và lớn lên tại đây, chưa từng nghe cha mẹ nói về việc thuê nhà hay trả tiền thuê cho gia đình bà Y. Ông khẳng định phần diện tích đang ở là do cha mẹ để lại.
Tương tự, bà M. (con dâu ông C.) cũng cho rằng gia đình bà được cha mẹ chồng cho ở ổn định từ năm 1981, không phải thuê mượn.
Chính quyền địa phương xác nhận căn nhà tranh chấp có nguồn gốc thuộc sở hữu của bố mẹ chồng bà Y. và các con theo tài liệu lưu trữ về bằng khoán điền thổ. Tuy nhiên, không có hồ sơ thể hiện việc hai hộ dân đang ở là thuê nhà hay được cho ở nhờ.
Đáng chú ý, trong hồ sơ có một bản sao “Giấy xin sửa chữa nhà” của bà M. với nội dung: “Từ năm 1981 đến nay tiền nhà tôi chưa trả, nếu gia đình lấy thì thanh toán”.
Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TP Hà Nội chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Y., buộc gia đình ông L. và bà M. phải di dời, trả lại tổng cộng hơn 46m2 tầng 1 cùng diện tích phụ dùng chung của ngôi nhà.
Tuy nhiên, tòa sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu đòi tiền thuê nhà do bà Y. không cung cấp được đầy đủ chứng cứ chứng minh việc thuê nhà và mức tiền thuê qua các thời kỳ. Đồng thời, gia đình bà Y. phải hoàn trả cho các bị đơn hơn 54 triệu đồng chi phí sửa chữa, cải tạo nhà.
“Chiếm hữu ngay tình” hơn 60 năm nên được sở hữu?
Không đồng ý với phán quyết trên, ông L. và một số người liên quan kháng cáo. Trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, bà Y. qua đời, trong khi chồng bà đã qua đời vào năm 2019. Bốn người con của ông bà trở thành người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Tại phiên phúc thẩm, các con bà Y. cho rằng gia đình ông L. và bà M. thực chất là người thuê nhà từ những năm 1950-1960 nhưng đã ngừng trả tiền thuê từ nhiều thập kỷ trước.
Ngược lại, phía bị đơn cho rằng họ đã sinh sống ổn định tại đây qua nhiều thế hệ, có hộ khẩu, hợp đồng điện nước và từng nộp thuế nhà đất. Luật sư của ông L. lập luận gia đình ông đã “chiếm hữu ngay tình, liên tục” hơn 60 năm nên đủ điều kiện xác lập quyền sở hữu theo Bộ luật Dân sự.
Tuy nhiên, tòa phúc thẩm nhận định hộ khẩu, điện nước hay biên lai thuế chỉ thể hiện việc cư trú, sử dụng thực tế, không phải căn cứ xác lập quyền sở hữu.
Trong khi đó, các con bà Y. xuất trình được các tài liệu pháp lý từ thời Pháp thuộc, cùng bản kê khai nhà đất năm 1986 thể hiện rõ phần diện tích tầng 1 đang được “cho thuê”.
Đáng chú ý, tòa cũng xem xét “Giấy xin sửa chữa nhà” năm 1995 của bà M., trong đó có nội dung thừa nhận “từ năm 1981 đến nay tiền nhà tôi chưa trả”. Theo tòa, đây là tình tiết củng cố cho lập luận về quan hệ thuê nhà giữa các bên.
Tòa phúc thẩm kết luận không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông L. và các cá nhân liên quan. Theo bản án phúc thẩm của TAND Cấp cao tại Hà Nội, gia đình ông L. phải trả lại hơn 20m2 tầng 1; gia đình bà M. phải trả lại hơn 26m2 cùng diện tích phụ dùng chung tại căn nhà cho các con bà Y.
Dù vậy, tòa tiếp tục không chấp nhận yêu cầu đòi tiền thuê nhà của các con bà Y. do thiếu căn cứ chứng minh cụ thể mức tiền thuê qua từng thời kỳ. Các con bà Y. phải hoàn trả chi phí sửa chữa, cải tạo nhà cho ông L. và bà M. với tổng số tiền hơn 54 triệu đồng.
(Tham khảo Bản án số 432/2023/DS-PT của TAND Cấp cao tại Hà Nội)